Nhà Văn Phạm Quang Trình

                    Dụ Số 10 của Quốc Trưởng Bảo Đại

 

      * Phạm Quang Trình

 

Dụ số 10 do Quốc Trưởng Bảo Đại ký ngày 6 tháng 8 năm 1950 tại Vichy Pháp quốc quy định thể lệ lập hội. Việt Nam thời đó có danh nghĩa là Quốc Gia Việt Nam mới được Thực dân Pháp trao trả độc lập qua Hiệp Định Élysée được ký kết giữa TT Pháp Vincent Auriol và Vua Bảo Đại tại điện Élysée, Paris ngày 8-3-1949. Với thể chế Quốc Gia Việt Nam, Vua Bảo Đại lấy danh xưng mới là Quốc Trưởng. Vì là thể chế mới nên việc tổ chức guồng máy quốc gia phải được dựa trên các văn kiện pháp lý mà Quốc Trưởng Bảo Đại là người đứng đầu nắm toàn quyền ban hành qua các văn kiện pháp lý gọi là Dụ và Dụ số 10 là một trong các văn kiện được Quốc Trưởng Bảo Đại ký ban hành.    

Mỗi lần nói đến Dụ số 10, là người ta liên tưởng đến cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống lại chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chuyện xẩy ra đã trên nửa thế kỷ (1963-2014), nhưng hình như gần chục năm nay, cứ mỗi lần nhắc đến TT Ngô Đình Diệm là y như một số phần tử cực đoan thuộc cái gọi là Phật Giáo Ấn Quang lại la lối om sòm ầm ĩ với những luận điệu xuyên tạc trắng trợn đến độ lố bịch về Dụ số 10. Nói khác đi, lý luận của những phần tử này là cố nói cho bằng được, giành cho bằng được phần chính nghĩa về mình mà không cần biết đến cơ sở pháp lý và thực tế như thế nào. Họ cho rằng Chính quyền Ngô Đình Diệm duy trì Dụ số 10 là có chủ trương kỳ thị tôn giáo, dành ưu tiên cho Thiên Chúa Giáo và đàn áp Phật Giáo. Lập luận này chỉ rập khuôn lại những gì mà phe Phật Giáo Tranh Đấu hồi năm 1963 đã nói lên trong yêu sách 5 điểm củng những bài viết của bọn nhà báo bất lương ngoại quốc làm việc theo chỉ thị. Nay những sự việc đó được nhắc lại không chỉ đơn giản nói về chuyện đúng hay sai mà rõ ràng là có mục đích gây hận thù Tôn giáo giữa lúc đang cần sự đoàn kết Dân Tộc trong việc dẹp bỏ giải thể chế độ Cộng sản và dân chủ hóa đất nước hầu đêm lại tự do hạnh phúc thật sự cho Dân Tộc. Điển hình cho luận điệu xuyên tạc này là trên các trang mạng, có vài kẻ ăn không ngồi rôi chuyên môn tung hứng với nhau nhằm gây rối loạn Cộng Đồng. Xin ghi lại vài trường hợp điển hình như sau:  

 

I. Lập luận chủ quan.

Gọi là “lập luận chủ quan” vì những người viết không chịu tìm hiểu, và suy xét trên cơ sở pháp lý cũng như trên thực tế sự việc như thế nào mà cứ nhắm mắt nói mỏ. Cụ thề dưới đây là bài viết của Trần Tiên Long “tung hứng” với Võ Văn Sáu trên mạng về Dụ số 10 trên Diễn Đàn Chính Nghĩa Việt ngày 24 tháng 4 năm 2014, nguyên văn như sau:

 

To ChinhNghiaViet@yahoogroups.com     Apr 26 at 6:02 AM

 

Kính thưa quí độc giả,

Xin đồng ý với ông Sáu Góp Gió rằng:

“ Khi thành lập nền Cộng Hoà, tuyên bố bản Hiến Pháp 1956, thì tất cả các văn kiện được ban bố dưới thời Pháp thuộc và Bảo Đại đương nhiên bị VÔ HIỆU HOÁ kể cả “Dụ Số 10”.(sic)

Tôi không biết vì lý do gì mà tác giả Lữ Giang lại muốn Dụ Số 10 vẫn còn hiệu lực dưới chính thể VNCH? Tác giả Lữ Giang đã nêu ra điều 44 đòi hỏi cần phải có sự ưng thuận của người Pháp mới có thể sửa đổi được Dụ Số 10 để biện minh cho hành động độc tài tôn giáo trị của chính quyền Ngô Đình Diệm về vấn đề treo cờ Phật Giáo cho độc giả chúng tôi thấy một tinh thần nô lệ thực dân của tác giả. Tác giả viết:

“Như vậy, một “chế độ đặc biệt” được nói ở điều 44 Dụ số 10 không phải để ưu đãi Thiên Chúa Giáo và người Hoa, mà vì Thỏa ước Élysée đòi hỏi muốn sửa đổi quy chế của các hiệp hội này phải được sự thỏa thuận của Đại Diện Chính Phủ Cộng Hoà Pháp Quốc, nên Điều 44 phải quy định như vậy.” (sic)

Như vậy, mang Dụ Số 10 ra để biện minh không có giá trị thuyết phục, bởi vì nếu Dụ Số 10 còn hiệu lực thì tất cả các luật lệ khác của các chính quyền VN trong quá khứ cũng vẫn còn hiệu lực. Chính quyền Ngô Đình Diệm không thể tùy tiện muốn áp dụng luật lệ nào mà họ thấy có lợi cho họ thì cho áp dụng, còn không thì phớt lờ, không áp dụng. Do đó, những tàn dư Cần Lao Công Giáo như tác giả Lữ Giang càng biện minh cho chế độ NĐD đã vô tình càng chứng minh ra trước công luận một chế độ độc tài tôn giáo trị. Đó không những là một chế độ độc tài tôn giáo trị mà còn là một chế độ độc tài gia đình trị như tôi đã chứng minh khi phản biện tác giả Lữ Giang trong bài Giấu Đầu Lòi Đuôi sau đây.

Trân trọng,

Trần Tiên Long

Trần Tiên Long tên thật là Trần Văn Quý, dân Công Giáo gốc Ba Làng, Thanh Hóa. Năm 1954 còn nhỏ Trần Văn Quý theo gia đình di cư vào miền Nam, từng học ở  Chủng Viên Sao Biển Nha Trang, có anh là Linh Mục ở Vũng Tàu, và từng là Giáo Lý Viên ở New Orleans, Louisiana thập niên 1980. Không hiểu vì nguyên do nào mà Trần Văn Quý đã bỏ Đạo và hùa theo nhóm Giáo Điểm chuyên viết bài đánh phá Giáo Hội Công Giáo và chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa với TT Ngô Đình Diệm. Lập trường của Trần Văn Quý cũng thay đổi đến 180 độ qua câu viết: “Nếu có chiến tranh xảy ra giữa người Công Giáo và Cộng Sản. Tôi sẽ đứng về phía Cộng Sản.” trên các trang mạng 02-02-2014. Bởi thế có người cho rằng “Trần Văn Quý là hạng người không thích ăn cơm”.

Còn Võ Văn Sáu nguyên là lính Hải Quân, chủ nhiệm tờ báo Góp Gió ở Seattle, Washington State. Nghe nói vợ Sáu là người giúp việc cho vợ Dương Văn Minh nên thù ghét Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Võ Văn Sáu chuyên viết bài gửi lên mạng đánh phá Giáo Hội Cộng Giáo và chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa với những luận điệu đầy hận thù, nông cạn, và ngụy tạo. Nói chung, đọc những bài viết của Trần Tiên Long và Võ Văn Sáu, người ta dễ nhận ra trình độ và kiến thức của họ rất là nông cạn, thấp kém.  Liên quan đến Dụ số 10 thì Võ Văn Sáu, Trần Văn Quý và một số người hùa theo đều cho rằng: “Khi thành lập nền Cộng Hoà, tuyên bố bản Hiến Pháp 1956, thì tất cả các văn kiện được ban bố dưới thời Pháp thuộc và Bảo Đại đương nhiên bị VÔ HIỆU HOÁ kể cả “Dụ Số 10”.

 II – Quan điểm của GS Võ Văn Ái, giám đốc Phòng Thông Tin GHPGVNTN về Dụ số 10:

 Ông Võ Văn Ái là Phát Ngôn Viên của Viện Hóa Đạo thuộc Giáo Hộ Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phe Hòa Thượng Thích Quảng Độ tức Phật Giáo Ấn Quang. Lập luận của Võ Văn Aí cũng như của Võ Văn Sáu và Trần Văn Quý là Dụ Số 10 đã bị hủy bỏ sau cuộc Đảo Chính ngày 01 tháng 11 năm 1963, lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa và TT Ngô Đình Diệm, nguyên văn như sau:

 

 Original Message -----

From: IBIB (UBCV)

To: BTGVQHVN- @yahoogroups.com ; diendanviahe@yahoogroups.com ; diendancongluan@yahoogroups.com ; diendanviahe2@yahoogroups.com ; ChinhNghiaViet@yahoogroups.com ; Gop Gio News ;PhoNang@yahoogroups.com ; ChinhLuan@yahoogroups.com ; thaoluan9@yahoogroups.com ; bao ve chanh phap

Cc: chaulinhvu@yahoo.com

Sent: Thursday, October 27, 20112:54 AM

Subject: [PhoNang] Re: [BTGVQHVN-2] Dụ số 10 vẫn còn hiệu lực vì từ 1/11/63 đến 30/4/75 không có luật nào hủy bỏ nó cả. 

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin góp ý với ông Vũ Linh Châu về Dụ số 10 như sau.

Trong một bài viết « Dụ số 10 vẫn còn hiệu lực”  gửi lên Mạng ngày 26.10.2011, ông Vũ Linh Châu viết rằng : « Dụ số 10 vẫn còn hiệu lực cho tới ngày 30/4/1975 vì từ ngày 1/11/1963 cho tới ngày đó, cũng không hề có một sắc lệnh hay một sắc luật nào của chính quyền hủy bỏ nó cả (…) Dụ số 10 chỉ là một con ngáo ộp, chỉ là một mánh lới mà một số các nhà lãnh đạo Phật giáo đã ngụy tạo ra để kích động lòng căm thù tôn giáo, hầu có thể đưa chính biến 1/11/63 đi đến thành công mà thôi  (…) Nếu qúi vị vẫn còn tiếp tục coi việc duy trì Dụ số 10 là một tội ác của TT Ngô Đình Diệm, thì xin cũng đừng quên rằng tất cả các vị chủ mưu cuộc chính biến 1/11/63 như tướng Dương văn Minh, như các nhà lãnh đạo Phật giáo HT Thích Tâm Châu, TT Thích Trí Quang, như các chính khách Phan Khắc Sửu, Vũ văn Mẫu, như tất cả các vị đứng đầu nội các của Nền Đệ Nhị Cộng Hòa, TT Nguyễn văn Thiệu, TT Nguyễn Cao Kỳ, TT Phan Huy Qúat…”.

Viết như thế là sai, vì  Sắc luật 158 gồm 6 điều, do Trung tướng Nguyễn Khánh, Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ, ký ngày14.5.1964. Sắc luật này được đăng trong Công báo VNCH số 26 (năm thứ 10, ra ngày 19.5.1964).

Mở đầu Sắc luật viết :

“Sắc luật số 158-SL/CT ngày 14 tháng 5 năm 1964 công nhận Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cùng bản Hiến chương ngày 4.1.1964 : CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG kiêm Thủ tướng Chính phủ, chiếu Hiến ước tạm thời số 1 ngày 4 tháng 11 năm 1963 và số 2 ngày 7 tháng 2  năm 1964, chiếu Sắc lịnh số 99-TTP ngày 8 tháng 2 năm 1964  ấn định thành phần Chính phủ, chiếu Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950, sau khi Hội đồng Chính phủ đề nghị, SẮC LUẬT :”

Sau đó Sắc luật ghi 6 điều mà điều thứ năm hủy Dụ số 10 đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất :

“Điều thứ năm : Dụ số 10 ngày 6 tháng tám năm 1950, cùng các luật lệ trái với sắc luật này, không áp dụng đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

“Điều thứ sáu : Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, chiếu nhiệm vụ lãnh thi hành các sắc luật này.

Saigon, ngày 14 tháng 5 năm 1964

Trung tướng Nguyễn Khánh”

Kết luận :

Không như ông Vũ Linh Châu quyết đoán. Cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng của chư Tăng Ni, và đồng bào Phật tử khởi phát từ thượng tuần tháng 5 năm 1963 đã thành công hủy bỏ Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc.

Trân trọng.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Paris

 

Xin nhắc lại:

Trong phần kết luận, Ông Võ Văn Ái đã khẳng định: “Cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng của chư Tăng Ni, và đồng bào Phật tử khởi phát từ thượng tuần tháng 5 năm 1963 đã thành công hủy bỏ Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc.”

Câu hỏi được đặt ra là: Lập luận của những người cho rằng Dụ số 10 đã bị hủy bỏ đúng hay sai?

 

Trước hết, xin nhìn lại thời gian và hoàn cảnh khi Dụ Số 10 được ban hành

 

Chế độ Quốc Gia Việt Nam bắt đầu từ năm 1949 tới năm 1955 là chấm dứt và Việt Nam được chuyển sang chế độ Cộng Hòa. Nguyên do là vì vua Bảo Đại muốn cất chức Thủ Tướng Ngô Đình Diệm để trao cho một nhân vật khác vì nhân vật này hứa sẽ dành nhiều quyền lợi cho ông nên ông đã tọa rập với Thực Dân Pháp xúi giục các Giáo phái nổi loạn. Khi các Giáo phái nổi lên chống chính phủ thì buộc lòng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm phải dùng Quân Đội để dẹp loạn. Rồi sau khi dẹp tan các Giáo Phái, thống nhất Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, thu hồi toàn vẹn nền Độc Lập cho Quốc Gia Việt Nam từ tay Thực Dân Pháp, Chính phủ Ngô Đình đã tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý và thành lập nên Cộng Hòa qua bản Hiến Ước Tạm Thời ngày 26-10-1955 nguyên văn như sau:

 

 Hiến Ước Tạm Thời ngày 26-10-1955

1. Việt Nam là một nước Cộng Hòa

2. Quốc Trưởng lấy danh hiệu là Tổng Thống

3. Một Uỷ Ban được thiết lập để soạn thảo dự án Hiến Pháp

4. Một Quốc Dân Đại Hội dân cử sẽ xét định về Hiến Pháp

5. Các luật lệ hiện hành vẫn tạm giữ nguyên

                      Ký tên: Ngô Đình Diệm                            

(Đoàn Thêm: Hai Mươi Năm Qua: 1945-1964, trang 184)

Sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Dương Văn Minh làm Chủ Tịch cũng ra Bản  Hiến Ước Tạm Thời nguyên văn như sau:

Hiến Ước Tạm Thời ngày 4-11-1963

1.Việt Nam vẫn là nước Cộng Hòa: quyền Lập pháp và quyền Hành pháp thuộc Hội Đồng Quan Nhân Cách Mạng.

  1. Quyền hành Quốc Trưởng thuộc Chủ Tịch Hội Đồng
  2. Quyền Hành pháp ủy cho Chánh phủ lâm thời do Hội Đồng chỉ định;
  3. Quyền Lập pháp ủy cho Chánh phủ, trừ về Ngân Sách, Thuế, An Ninh, Quốc Phòng.
  4. Luật lệ hiện hành vẫn tạm áp dụng.

              Ký tên: Dương Văn Minh

Quyết định thứ hai đề ngày 2-11-1963:

  1. Tạm ngưng áp dụng Hiến Pháp 26-10-1956
  2. Giải tán Quốc Hội bầu ngày 27-09-1963

         Ký tên : Dương Văn Minh

    (Đoàn Thêm: Hai Mươi Năm Qua: 1945-1964, trang 368)

Hiến Ước Tạm Thời khởi đầu cho nên Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) gồm 5 điểm. Điểm 5 đã ghi rõ ràng: “Các luật lệ hiện hành vẫn tạm giữ nguyên.”  Rồi sang đến nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Hiến Ước Tạm Thời cũng chỉ có 5 điểm và điểm 5 cũng ghi rõ: “Luật lệ hiện hành vẫn tạm áp dụng.”  Câu hỏi cần được đặt ra: “Luật lệ hiện hành” là gì và làm sao phải tạm giữ?

Qua bản Hiến uớc Tạm thời ngày 26-10-1955, ta thấy rõ nội dung chỉ nhằm xác định lại thể chế chính trị của Việt Nam: từ Quốc Gia Việt Nam với Quốc Trưởng Bảo Đại là chế độ phong kiến, vua đứng đầu với danh xưng là Quốc Trưởng được chuyển sang chế độ Cộng Hòa với vị Quốc Trưởng với danh hiệu là Tổng Thống. Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1963-1975), chế độ Cộng Hòa vẫn không thay đổi, nhưng chỉ tạm ngưng áp dụng Hiến Pháp 26-10-1956 và giải tán Quốc Hội bầu ngày 27-09-1963. So sánh hai bản Hiến Ước Tạm Thời ta thấy gì? Hiến Ước 26-10-1956 khỏi đầu cho chế độ Cộng Hòa có ghi rõ ràng việc chuẩn bị bầu cử Quốc Hội, soạn thảo Hiến Pháp để thực thi dân chủ. Ngược lại, Hiến Ước Tạm Thời ngày 4-11-1963 thì dành toàn quyền (hành pháp, lập pháp) cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng mà không hề dự trù việc soạn thảo Hiến Pháp, bầu cử Quốc Hội, bầu cử Tổng Thống và các cơ quan dân cử chi cả. Đây là một việc làm thiếu sót có chủ ý và là khởi đầu cho chế độ quân phiệt mà nhóm Tướng lãnh đảo chánh là thủ phạm.  Bởi đó, từ sau ngày 1-11-1963, Miền Nam trở nên hỗn loạn vỉ lãnh đạo bất lực chỉ lo vơ vét, ăn chơi hơn là làm cách mạng thật sự.

Trở lại vấn đề “Luật lệ hiện hành” thời cả hai Bản Hiến Ước đều đã ghi “vẫn áp dụng” có nghĩa là các luật lệ về Dân sự, Hình sự, Thương mại chi phối đời sống dân chúng và sinh hoạt quốc gia. Nói đến luật lệ thì phải nói Việt Nam là nước chậm tiến, lạc hậu nên kho tàng Luật pháp của ta rất là nghèo nàn. Thời phong kiến vua chúa vài trăm năm trước có bộ Quốc Triều Hình Luật cũng gọi là Luật Hồng Đức dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1442-1497) thế kỷ thứ 15. Bộ này tuy danh nghĩa là Quốc Triều Hình Luật, nhưng các nhà nghiên cứu Luật học đều cho rằng đã có nét đặc biệt là phân biệt giữa hình và hộ (chương nói về điền sản). Sang đến thời nhà Nguyễn (1802-1954), có bộ Luật Gia Long được giao cho ông Nguyễn Văn Thành soạn thảo. Thay vì căn cú vào Luật Hồng Đức mà tu bổ, điển chề, cập nhật, ông Nguyễn Văn Thành và bộ phận soạn thảo do ông chịu trách nhiệm lại chép nguyên văn Luật Nhà Thanh bên Tàu làm thành Luật Gia Long cho Việt Nam. Suốt thời Nhà Nguyễn hơn 100 năm, nhưng chỉ đưọc độc lập hơn nửa thế kỷ (1802-1884) thì thực dân Pháp đã mang quân xâm chiêm Việt Nam làm thuộc địa. Với chính sách chia để trị, ba miền Trung, Nam, Bắc đều có quý chế chính trị và pháp lý khác nhau. Pháp đặt quan cai trị cả nước. Trên hết là Toàn Quyền coi hết cả ba miền, Miên và Lào. Ở dưới thì Miền Bắc có Thống Sứ Bắc Kỷ, Nam có Thống Đốc Nam Kỳ, Miền Trung còn lại dành cho vua An Nam có Khâm Sứ Trung Kỳ. Vì ba chế độ chính trị khác nhau cho cả ba miền Trung, Nam, Bắc nên Pháp cũng cho ban hành các Bộ Luật cho ba Miền với danh xưng khác nhau. Về Dân luật, có Dân Luật Bắc cho Bắc Kỳ, Dân Luật Trung cho Trung Kỳ cũng gọi là An Nam và Dân Luật Giản yếu cho Nam Kỷ. Về Hình luật có Hình Luật Bắc cho Bắc Kỷ, Hình Luật Cải Cách cho Nam Kỳ và Hoàng Việt Hình Luật cho Trung Kỳ. Các Bộ luật Dân sự hay Hình sự tuy mang tên khác nhau, nhưng nội dung thì giống nhau vì đều được căn cứ vào luật của Pháp soạn thảo và ban hành. Tất nhiên phải hiều rằng thời đó Pháp đã là nước văn minh tiến bộ, một Đế Quốc Thực Dân nổi tiếng về bộ Luật Napoléon. Cho nên việc soạn thảo phải nói là mới mẻ, tiến bộ. Chính vì thế, khi thay đồi chế độ từ Quốc Gia Việt Nam (độc lập trong Liên Hiệp Pháp) sang Cộng Hòa Việt Nam (độc lập hoàn toàn) thì việc duy trì các Luật Lệ hiện hành là điều tất nhiên khi chế độ mới chưa đủ thời gian để ban hành các bộ luật khác để thay thế. Các bộ Dân Luật và Hình Luật cho cả ba miền vẫn được duy trì, và áp dụng suốt từ thời Quốc Gia Việt Nam với vua Bào Đại cho đến gần hết thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Vào năm 1972, các Dự Thảo Luật về Dân Luật, Hình Luật từ Hành Pháp (TT Nguyễn Văn Thiệu) gửi qua cho Quốc Hội (Thượng Nghị Viện và  Hạ  Nghị Viện) để đưa ra khoáng đại thảo luận và biểu quyết. Nhưng việc họp bàn của Quốc Hội quá chậm trễ, không đáp ứng tình hình nên Quốc Hội đã biểu quyết Luật số 005/72 ngày 28-6/1972 ủy quyền cho Tổng Thống ban hành các bộ Luật Dân Sự và Hình Sự bằng Sắc Luật. Nhờ vào sự ủy quyền này TT Nguyễn Văn Thiệu đã ký các Sắc Luật ban hành các Bộ Luật Dân Sự và Hình Sự thay thế các Bộ Luật cũ từ thời Pháp thuộc. Bộ Dân Luật mới được ban hành qua Sắc Luật 028/TT/SLU ngày 20-12-1972 chỉ quy định các luật về nhân thân (quyền dân sự, hộ tịch, hôn nhân), tài sản, nghĩa vụ và khế ước, và không nhắc gì đến Dụ số 10 về thể lệ lập hội hay có một chương nào quy định về thể lệ lập Hội như Dụ số 10. Các bộ Luật cũ như Luật Gia Long, Dân Luật Giản Yếu 3-10-1883 dành cho Nam Kỳ, Dân Luật Bắc, Dân Luật Trung tức Hoàng Việt Trung Kỳ, và Luật Gia đình (Sắc Luật 15/64 ngày 23-07-1964) đều bị hủy bỏ.

Liên quan đến Dụ số 10, Sắc Luật số 158/SL/CP do Nguyễn Khánh ký ngày 14-5-1964 công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thì điều 5 đã ghi như sau: “Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950, cùng luật lệ trái với Sắc Luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.”  Nên nhìn cho kỹ và đọc cho rõ đọc ba chữ “không áp dụng” chớ không có một chữ nào nói là “hủy bỏ” như ông Võ Văn Ái đã khẳng định: Cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng của chư Tăng Ni, và đồng bào Phật tử khởi phát từ thượng tuần tháng 5 năm 1963 đã thành công hủy bỏ Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc.” Võ Văn Ái đã nói sai!

Vậy, căn cứ vào các văn kiện pháp lý cùng thực tế nói trên, ta có thể khẳng định rằng Dụ số 10 vẫn còn tồn tại sau khi chế độ Quốc Gia Việt Nam được thay thế bằng chế độ Cộng Hòa dưới thời TT Ngô Đình Diệm. Dụ số 10 cũng vẫn tồn tại sau cuộc đảo chánh 1-11-1963 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, trong một chế độ độc tài Đảng trị. Thông thường, khi cuộc đảo chánh hay cách mạng xẩy ra, các luật lệ hiện hành vẫn được áp dụng như thường. Ngay cả ngụy quyền Hà Nội, khi cướp được chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản cũng đã phải duy trì các Bộ Luật cũ như Sắc Lệnh số  97/SL ngày 22-5-1950. Xin trích dẫn dưới đây một vài đoạn:

SẮC LỆNH SỐ 97/SL NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 1950

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiểu sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam;

Chiểu sắc lệnh số 72-SL ngày 18-6-1949 lập hội đồng tư lập có nhiệm vụ thảo những dự án pháp điển Việt Nam;

Chiểu các dân pháp điển bắc kỳ và trung kỳ quyển I, Pháp quy giản yếu 1883 thi hành ở Nam kỳ và những luật lệ theo sau;

Xét cần thích ứng luật lệ với sự tiến hoá chung;

Chiểu đề nghị của các tiểu ban chuyên môn của Hội đồng tư luật và của ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Chiểu quyết nghị của Hội đồng Chính phủ sau khi Ban thường trực Quốc hội thoả thuận;

RA SẮC LỆNH:

Điều 1: Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân.

……………………………………………………………………………………………………..

Điều 14: Tất cả các điều khoản trong dân pháp điển Bắc kỳ dân pháp điển Trung kỳ, Pháp quy giản yếu 1883 (sắc lệnh ngày 3 tháng 10 năm 1883) thi hành ở Nam kỳ, và những luật lệ theo sau, trái với những điều khoản trên này đều bị bãi bỏ.

Điều 15: Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu uỷ nhiệm thi hành Sắc lệnh này.

                                                                        Hồ Chí Minh

                                                                       (Đã ký)

Thật rõ như ban ngày.  Ngay phần đầu, Sắc Lệnh đã ghi: “Chiểu sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam;”  Và điều 14: “Tất cả các điều khoản trong dân pháp điển Bắc kỳ dân pháp điển Trung kỳ, Pháp quy giản yếu 1883 (sắc lệnh ngày 3 tháng 10 năm 1883) thi hành ở Nam kỳ, và những luật lệ theo sau, trái với những điều khoản trên này đều bị bãi bỏ.” Xin nhấn mạnh cụm t ừ “Tất cả các điều khoản… trái với” chớ không phải các bộ luật bị hủy bỏ.  Nói khác đi những điều “không trái với…” thì vẫn được duy trì, áp dụng.

Vậy những ai còn nghĩ rằng thay đổi một chế độ là phải hủy bỏ ngay lập tức tất cả các luật lệ nên coi lại trước khi phát biểu hay đặt bút viết.

Nói rõ hơn về Dụ số 10. Dụ số 10 gồm 5 chương, 45 điều quy định thể lệ lập hội. Xin ghi lại mấy điều:

Điều 1 được viết như sau: “Hội là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu. Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.”

Điều 4 ghi: “Muốn được phép thành lập tất nhiên các sáng lập vien phải làm đơn xin phép Bộ Nội Vụ. Sau khi cứu xét hội đủ các điều kiện luật định thì Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ sẽ ra Nghị Định cho phép thành lập sau khi hỏi ý kiến các thủ hiến, theo như các thể lệ định ở dụ này mới được hoạt động. Nếu hội chỉ hoạt động trong phạm vi một phần Việt Nam thì Thủ Hiến chiếu ủy nhiệm của Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ mà ra nghị định cho phép thành lập; sau khi cho phép, Thủ Hiến phải trình Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ tri chiếu. Riêng các hội thanh niên và thể thao, Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên Thể Thao được sử dụng những thẩm quyền dành cho Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ nhưng phải ý hiệp với Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ.” 

 

Điều 5: “Những hội được phép thành lập đều có tư cách pháp nhân theo thể lệ dụ này.”

 

Kể từ khi ra Dụ số 10 thì ở Bộ Nội Vụ thời Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam có Nha Chính Trị trông coi về các hiệp hội. Sang thời Việt Nam Cộng Hòa, các đoàn thể, hiệp hội do Sở Kiểm Soát trông coi. Sở này vẫn thuộc Bộ Nội Vụ nằm trên đường Nguyễn Du đối diện với Nhà Thờ Đức Bà, Sài-Gòn, trên lầu 2. Những năm đầu thập niên 1970, người viết hay có dịp ghé Bộ Nội Vụ và có lần đã vào Sở Kiểm Soát nói chuyện với Chánh Sự Vụ. Sở Kiểm Soát này vẫn tồn tại cùng với Dụ số 10 đến ngày 30-4-1975 để trông coi các đoàn thể, hiệp hội.  Cho nên, nếu huỷ bỏ Dụ số 10 thì căn cứ vào đâu để Bộ Nội Vụ và Bộ Thanh Niên Thề Thao (sau là Bộ Quốc Gia Giáo Dục) làm việc với các hiệp hội, đoàn thể?

 

Dụ số 10 và các Tôn Giáo.

Dụ số 10 là một trong những lý do và cũng là chiêu bài đấu tranh chống chính phủ Ngô Đình Diệm của Phong Trào Phật Giáo năm 1963. Trước đó, chẳng thấy ai nhắc đến Dụ số 10 trên các cơ quan truyền thông, báo chí. Nhưng từ khi biến cố Phật Giáo xẩy ra thì người ta đã gán cho nó những nhãn hiệu, những tư tưởng, những dụng ý thật là kinh hồn. Để làm gì? Phải chăng như lời tuyên bố của Thích Trí Quang với ký giả Mỹ Margueritte Higgins trong Our Vietnam Nightmare: “Phải dẹp bỏ Diệm Nhu thì chúng tôi mới có thể nói chuyện với Bắc Việt.” (Nguyên văn: “we cannot get an arrangement with the North until we get rid of Diem and Nhu”, trang 28).

Liên quan đến Dụ số 10 thì thì “Ngày 10/5/1963, các vị lãnh đạo Phật giáo họp tại chùa Từ Đàm hoạch định đường lối và phương pháp tranh đấu bảo vệ Phật giáo và đòi hỏi công bằng xã hội. Một bản Tuyên Ngôn được soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo. Bản Tuyên Ngôn này được gửi tới tổng thống Ngô Đình Diệm qua trung gian đại biểu chính phủ Trung Nguyên Trung Phần. Năm nguyện vọng bao gồm:

  1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện cấm treo cờ tôn giáo nơi công cộng.
  2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10.
  3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo.
  4. Yêu cầu cho tăng ni phật tử được tự do truyền đạo và hành đạo.
  5. Yêu cầu chính phủ bồi thường thích đáng cho những người chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải bị xét xử.

 

Trong 5 điểm nói trên thì điểm 2, phía Phật Giáo đấu tranh đòi: “Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10.” Câu hỏi cần được đặt ra là: Vì sao Dụ số 10 dành chế độ đặc biệt cho Thiên Chúa Giáo?  Như đã trình bày ở trên, Dụ số 10 là văn kiện pháp lý do Bảo Đại ký nhằm quy định thể lệ lập hội. Các Hội nói ở đây có: “mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu. “ Nhưng điều 44 lại ghi: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo và Gia tô và các Hoa kiều Lý sự hội sẽ ấn định sau.” Chính cái điều 44 này đã bị xuyên tạc hay bị hiểu sai đê làm cớ cho cuộc đấu tranh. Họ không biết hoặc cố tình không biết lý do tại sao có điều này. Nguyên do đó như sau:

Đạo Thiên Chúa đã được truyền bá ở Việt Nam trên 400 năm, nhưng ở tiến bán thế kỷ 20, Việt Nam là xứ truyền giáo theo quy chế trong Giáo Hội toàn cầu. Hội Thừa Sai Paris tức Missions étrangères de Paris gọi tắt là MEP, là Hội được Tòa Thánh Vatican trao cho trách nhiệm coi các “Xứ Truyền Giáo” tại Viễn Đông như Lào, Kampuchea, Thái Lan, Việt Nam”. Tử thế kỷ 15 cho đến năm 1950, Đạo Thiên Chúa cũng gọi là đạo Gia tô hay Đạo Công Giáo ở Việt Nam vẫn chưa được coi là trưỏng thành, nên được đặt dưới sự quản trị, chăm sóc của Hội Thừa Sai Paris tức MEP. Hội Thừa Sai Paris lại nằm trên lãnh thổ Pháp quốc nên chịu sự chi phối của Luật Pháp quốc. Khi ban hành Dụ số 10, Quốc Trưởng Bảo Đại (về phương diện ngoại giao với Pháp) phải tôn trọng quy chế đó mà ghi nơi điều 44: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo và Gia tô và các Hoa kiều Lý sự hội sẽ ấn định sau.” Trên thực tế thì cũng vẫn chưa được ấn định gì cà.

Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam suốt thời Đệ Nhất Cộng Hòa cũng chẳng được ưu đãi gì hơn các Tôn giáo khác, nhất là khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm vốn là người Công Giáo, lại rất sợ mang tiếng là thiên vị. Ngược lại đã có sự va chạm gần như chống đối tiêu cực của vài vị Giám Mục. Người ta nhắc đến trường hợp Đức Cha Tadeo Lê Hữu Tử, nguyên Giám Mục Phát Diệm đã yêu cầu cho phép ông võ trang một số vùng có người Công Giáo Di Cư ở Miền Nam để chống Cộng như hồi Khu Tự Trị Bùi Chu - Phát Diệm trước hiệp định Genève 1954, nhưng Tổng Thống đã không chấp thuận nên Giàm Mục Tadêo Lê Hữu Từ tỏ ra bất mãn. Lý do TT Ngô Đình Diệm không chấp thuận vì trong khi chính quyền vừa dẹp các Giáo phái để thống nhất Quân Đội Quốc Gia mà lại chấp thuận cho Công Giáo được võ trang riêng rẽ thì thật là nghịch lý!

Nhưng cũng trên thực tết cho thấy Phật Giáo lại được TT Ngô Đình Diệm quan tâm và giúp đỡ đặc biệt như Chùa Vĩnh Nghiêm, Chùa Xá Lợi ỏ Sài Gòn, vân vân. Số chùa chiên xây dựng ở Miền Nam thời Đệ Nhất Cộng Hòa được coi là có số lượng đáng kể. Với Dụ số 10 suốt trong 13 năm (1950 - đến 1963) sao không quý vị lãnh đạo Phật Giáo lên tiếng phản đối, mà phải đợi đến khi có sự bất đồng giữa Mỹ và chính phủ Ngô Đình Diệm về công cuộc chống Cộng ở Miền Nam rồi mới ra tay hành động!

Trở lại Đạo Thiên Chúa hay Công Giáo ở Việt Nam vào năm 1960, Tòa Thánh Vatican đã có quyết định thay đổi quy chế. Từ là một xứ truyền giáo, Đạo Thiên Chúa được nâng lên hàng Giáo phận. Ngày 24/11/1960, trong lúc Giáo Hội tại miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản trở nên Giáo Hội thầm lặng, không phát triển được, thì Giáo Hội tại miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa đã phát triển mọi mặt, nên ngày 24/11/1960, Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã ra tông hiến Venerabilium Nostrorum thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam với ba Giáo Tỉnh: Hà Nội - Huế - Sàigòn và các lãnh thổ truyền giáo được nâng lên hàng Giáo Phận theo đúng quy luật Giáo Hội hoàn vũ. Kề từ đây, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam được coi như trưởng thành và không bị đặt dưới sự chăm sóc của Hội Thừa Sai Paris nữa. Nói khác đi, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là một hiệp hội như các hội khác ở Việt Nam, và bị chi phối bởi Dụ số 10 ngày 6-8-1950 kể từ sau ngày 24-11-1960. Từ đó đến nay, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam sống mạnh và phát triển dù trải qua bao gian nan vất vả duới chế độ Cộng sản độc tài. Tất nhiên phải hiểu rằng Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ có ngày hôm nay nhờ có tổ chức chặt chẽ, sinh hoạt đều đặn dựa trên tinh thần Phúc Âm, thực hiện công bình, bác ái. Sống ở giữa trần thế thì thiếu sót, khuyết điểm thì nơi nào, tổ chức nào mà chẳng có. Vấn đề là phải biết canh tân, đổi mới, giữ vững tinh thần và khôn ngoan xử sự trong mọi tình huống. Quả thật sự phát triển và lớn mạnh của Tôn giáo cách riêng của Giáo Hội Công Giáo không phải do bạo lực, cưỡng bách, dụ dỗ hay mua chuộc mà do việc các chức sắc và khối tín đồ có làm đúng theo tinh thần Đạo hay không. Tôn giáo nào dạy và làm những điều tốt lành, dám dấn thân, đi vào những nơi cùng khốn, đói nghèo, bịnh tật, bị khinh bỉ, bỏ rơi thì Tôn giáo đó tồn tại và lớn mạnh.

 

Chiêu bài Dụ số 10 đã giúp gì cho cuộc đấu tranh của Phật Giáo 1963?

Khi nổi lên đấu tranh chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa, thì một trong những lý do phía Phật Giáo cho rằng chính quyền đã dành chế độ đặc biệt cho Thiên Chúa Giáo theo Dụ số 10 và coi Phật giáo như các hiệp hội, đoàn thể thường. Nói khác hơn là có sự kỳ thị Tôn giáo. Bây giờ họ muốn “Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10.” Cho nên, khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa bị lật đổ ngày 1-11-1963, phe Phật Giáo tranh đấu liền triệu tập Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo (Nam tông và Bắc tông) ngày 13-12-1963 để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và hoàn tất bản Hiến Chương đầu tiên.

Bản Hiến Chương GHPGVNTN này gồm mười một Chương, 32 điều đã được 11 vị trưởng phái đoàn các Giáo phái, Hội đoàn duyệt nhận ký tên dưới đây tại chùa Xá Lợi:

  1. Trưởng phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy: Ðại Ðức Giới Nghiêm (ký tên). 
  2. Trưởng phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Trung phần: Thượng Tọa Thích Trí Thủ (ký tên). 
  3. Trưởng phái đoàn Giáo Hội Thiền Ðịnh Ðạo Tràng: Thượng Tọa Thích Pháp Triều (ký tên). 
  4. Trưởng phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Nam Việt: Thượng Tọa Thích Trí Tịnh (ký tên). 
  5. Trưởng phái đoàn Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt: Thượng Tọa Thích Tâm Giác (ký tên). 
  6. Trưởng phái đoàn Giáo Hội Tăng Sĩ Theravada: Ðại Ðức Thạch Gồng (ký tên). 
  7. Trưởng phái đoàn Hội Phật Giáo Nguyên Thủy: Ðạo Hữu Nguyễn Văn Ðiểu (ký tên). 
  8. Trưởng phái đoàn Hội Phật Học Nam Việt: Ðạo Hữu Chánh Trí - Mai Thọ Truyền (ký tên). 
  9. Trưởng phái đoàn Giáo Phái Theravada: Ðạo Hữu Sơn Thái Nguyên (ký tên). 
  10. Trưởng phái đoàn Hội Phật Giáo VN Trung phần: Ðại Ðức Thích Ðức Tâm (ký tên). 
  11. Trưởng phái đoàn Hội VN Phật Giáo (Bắc Việt): Ðạo Hữu Viên Trạm - Vũ Bảo Vinh (ký tên).

       Làm tại chùa Xá Lợi ngày 20 - 11 AL. 2507 (04-01-1964)

(nguồn: Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử của Tuệ Giác, trang 438)

Sau đó Thượng Tọa Thích Tâm Châu, Chủ Tịch UBLPPG VN, Chủ Tọa Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo gửi văn thư 13-1-1964 đến chính quyền mới để mong đạt được các đòi hỏi.

Sài Gòn ngày 13-1-1964

Kính gời:

Trung tướng Dương Văn Minh

Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng

Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa

Thưa Trung Tướng

Nhân danh Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo, tôi kính gởi Trung Tướng đính hậu, bản Hiến Chương cùa Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, danh hiệu mới của nền Phật Giáo tại VN.

Chúng tôi ước mong bản Hiến Chương được công nhận theo “một quý chế đặc biệt” dự liệu ban hành cho các tôn giáo tại Việt Nam.

Với sự ươc mong đó, tôi kính đợi Trung Tướng lòng tri ân của Phật giáo đồ trong và ngoài nước.

Nay kính

Chủ Tịch UBLPPG VN.

Chủ Tọa Đại Hội Thống nhất Phật Giáo

Thích Tâm Châu

Đáp lại, Chính phủ giải quyết bằng 2 văn kiện như sau:

VĂN KIỆN THỨ 1

Kính gới Thượng Tọa Thích Tâm Châu

                              Sàigon

Thưa Thượng Tọa,

Phúc quí văn thư số 0509-PT/CT ngày 13-1-1964 gời Trung Tướng, Chủ Tích Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, trân trọng tin Thượng Tọa rõ: Bộ Nội Vụ chấp nhận tạm thời và trên nguyên tắc bản Hiến Chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trong khi chờ đời quí chế mới về đạo giáo được ban hành.

Tuy nhiên, bản Hiến Chương nói trên sẽ đưọc xem xét lại và chấp thuận khi có quí chế mới, để luật lệ chung được tôn trọng.

Kính chào Thượng Tọa

Trung Tướng Tôn Thất Đính

 

VĂN KIỆN THỨ 2 (có đăng trong Công báo).

VIỆT NAM CỘNG HÒA                         Số 329 BNV/KS

      BỘ NỘI VỤ

                                 TỔNG TRƯỞNG NỘI VỤ

Chiếu Hiến Ước tạm thời số 1 ngày 4 tháng 11 năm 1963 và số 2 ngày 8 tháng 2 năm 1964;

Chiếu sắv lệnh số 66-NV ngày 8 tháng 7 năm 1952 ấn định chức chưởng của Bộ Nội Vụ;

Chiếu Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 sửa đổi bởi Dụ số 24 ngày 19 tháng 11 năm 1952  và Dụ số 7  ngày 3 tháng 4 năm 1954 ấn định qui chế Hiệp Hội, và trong khi chờ đợi ban hành quí chế mới về các Giáo Hội;

Chiếu văn thư số 1041-B/BNV/KS ngày 29 tháng 1 năm 1964 của Bộ Nội Vụ công nhận trên nguyên tắc và tạm thời Bản Hiến Chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất;

Chiếu đơn xin đề ngày 3 tháng 3 năm 1964 số 0344 –VI/VP của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất;

                                                                NGHỊ ĐỊNH

Điều thứ nhất: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phép thành lập trong khuôn khổ luật lệ hiện hành.

Điều thứ hai: Giáo Hội được phép hoạt động đúng theo bản Hiến Chương đề ngày 4 tháng 1 năm 1964 đã được công nhận.

Điếu thứ ba: Kể từ ngày được thành lập, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có tư cách pháp nhân và được quyền sở hữu, thủ đắc, tạo mãi, hoặc nhượng mãi, những bất động sản và động sản thực cần thiết để đạt mục đích của Giáo Hội.

Điều thứ tư: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ điều chỉnh tình trạng khi qui chế mới về các Giáo Hội được ban hành.

Điều thứ năm: Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội Vụ, Đô Trưởng Sài Gòn và Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia chiều nhiệm vụ thi hành nghị định này.

                               Sài gòn ngày 24 tháng 3 năm 1964

                                          Ký tên: Hà Thúc Ký

Sau khi nhận được hai văn thư này, phía Phật Giáo không thỏa mãn. Theo Tuệ Giác trong Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử trang448-448 (tài liệu do Tổng Vụ Hoằng Pháp Viện Hóa Đạo duyệt y và Thượng Tọa Thích Tâm Giác đề tựa, NXB Hoa Nghiêm ấn hành) thời: “Lối giải quyết dó đã không nghĩ đến xương máu và nguyện vọng của quảng đại quần chúng Phật giáo và các tôn giáo cùng cảnh ngộ. Do đó mà Phật giáo VN phải cấp thiết đặt vấn đề này với Chánh phủ, vì Phật giáo VN quan niệm rằng lối giải quyết như trên không trung thực với tuyên ngôn “bình đẳng với các tôn giáo” được công bố sau ngày 1-11-1963 (vì chỉ được nghe trên đài phát thanh).

Nhưng may mắn thay, nhờ sự tranh đấu quyêt1 liệt của Giáo Hội, nhất là sau loạt bài của Thượng tọa Thích Trí Quang đặt vấn đề với chính quyền: “Phật giáo đối với Ch1ng Phủ” thì ngày 14-5-1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng kiêm Thủ Tướng Chánh Phủ gửi Sắc Lệnh số 158/SL/CP đề ngày 14-5-1964, xác nhận dụ số 10 không còn áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Nguyên văn sắc lệng như sau:

VIỆT NAM CỘNG HÒA                        CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUÂN ĐỘI

SỐ 158/SL/CP                                          CÁCH MẠNG KIÊM THỦ TƯỚNG

                                                                                 CHÁNH PHỦ

Chiếu Hiến ước tạm thời số 1 ngày 4 tháng 11 năm 1963;

Chiếu sắc lệnh số 99 TTP ngày 8 tháng 2 năm 1964 ấn định thành phần Chánh Phủ;

Chiếu Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950;

Sau khi Hội Đồng Chánh Phủ đề nghị

                                                 SẮC LUẬT

Điều 1: Nay công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng bản Hiến Chương ngày 4 tháng 1 năm 1964

Điều 2: Kể từ ngày thành lập, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có trọn vẹn tư cách pháp nhân, và được quyền sở hữu, thủ đặc, tạo mãi hoặc chuyển nhượng những động sản cùng bất động sản cần thiết để đạt mục đích của Giáo Hội.

Những bất động sản cần thiết là các tự viện (chùa) hoặc các cơ sở hoạt động về văn hóa xã hội.

Điều 3: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có quyền thâu nhận nhựng tài sản sinh tặng hoặc di tặng bởi các thế nhân hay bởi các pháp nhân khác.

Điều 4: Riêng về điều 27 của Hiến Chương ngày 4 tháng 1 năm 1964, quyền Giám Hộ và bảo vệ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đối với các loại tự viện mà điều ấy đã ghi, cố nhằm mục dích giám hộ và bảo vệ phương diện tinh thần giáo lý và thờ phượng, để tránh phương hại cho Phật Pháp.

Quyền tư hũu và quản trị về vật chất của các loại tự viện vẫn thuộc sở hữu chủ, ngoại trừ trường hợp hiến cúng hoặc chuyển nhượng.

Điều 5: Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950, cùng luật lệ trái với Sắc Luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Điều 6: Thủ tướng Chánh phủ, Các Phó Thủ tướng, Tổng Trưởng, Bộ Trưởng, chiếu nhiệm vụ thi hành Sắc luật này.

Sài Gòn, ngày 14 tháng 5 năm 1964

Ký tên: NGUYỄN KHÁNH

Ghi chú của Tuệ Giác: Đây là một thắng lợi hết sức vẻ vang của toàn thể Phật Giáo đồ trong cuộc vận động cho 5 nguyện vọng của Phật Giáo dưới triều đại Ngô Đình và cuộc vận động của Giáo Hội sau ngày Cách Mạng 1-11-1963. Một sắc lệnh mà Phật giáo đồ VN, đã phải trả bằng bao nhiêu xương máu và nước mắt. (Viết xong ngày 30-5-64) tại Sàigòn). TUỆ GIÁC

Trên đây là trích nguyên văn những gì Tuệ Giác viết. Nhưng thật lạ lùng, Tuệ Giác không hiểu hay không phân biệt được thế nào là Sắc Luật và thế nào là Sắc Lệnh nên ông ta viết lẫn lộn chẳng ra làm sao cả. Có khi viết sai là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thay vì Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng. Xin nhớ tài liệu này do Tổng Vụ Hoằng Pháp Viện Hóa Đạo thuộc GHPGVNTN duyệt y và TT Thích Tâm Giác đề tựa mà quý vị đó đã không nhận ra sự sai lầm hay không đọc lại gì cả trước khi đặt bút viết tựa và cho ấn hành. Người viết không ghi lộn đâu. Nhưng đây chỉ là chuyện nhỏ, một tiểu tiết, tạm bỏ qua. Vấn đề chính là khi GHPGVNTN có được Sắc Luật 158/SL/CP ngày 14-5-1964 thì Giáo Hội này đi về đâu?

Thật là trớ trêu, khi hội Truyền Giáo và Đạo Thiên Chùa ở Việt Nam được Giáo Hoàng Gioan 23 nâng lên hàng Giáo phận theo quý chế chung trên toàn cầu, nghĩa không còn được đặt dưới sự chăm sóc, quản trị của Hội Thừa Sai Paris (Missions Étrangères de Paris) nữa, đương nhiên sẽ bị Dụ số 10 chi phối như các hiệp hội tại Việt Nam. Còn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lại được Nguyễn Khánh ban cho quý chế đặc biệt nơi Điều 5: “Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950, cùng luật lệ trái với Sắc Luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.”

Trong văn thư của TT Thích Tâm Châu gửi cho Dương Văn Minh ngày 13-1-1963, có ghi: “Chúng tôi ước mong bản Hiến Chương được công nhận theo “một quý chế đặc biệt” dự liệu ban hành cho các tôn giáo tại Việt Nam.” và không hề yêu cầu Chính quyền hủy bỏ Dụ số 10. Trong Nghị định do Tổng Trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký ký cũng nói rõ: “Điều thứ tư: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ điều chỉnh tình trạng khi qui chế mới về các Giáo Hội được ban hành.”  Vậy mà từ đó đến ngày 30-4-1975, Việt Nam Cộng Hòa vẫn chưa hề ra một Luật nào ấn định về quy chế các Tôn Giáo cả. Phải chăng mấy ông đấu tranh phải chờ cho đến khi Cộng Sản Bắc Việt đưa quân tấn chiếm Miền Nam, nhuộm đỏ cả nước, ra Pháp Lệnh về Tôn Giao để mấy ông nếm được cái mùi xã hội chủ nghĩa mới sáng mắt!

Trong thời gian tranh đấu, Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo nói là có sự kỳ thị và Dụ số 10 là một điều bất công cho Phật Giáo, nhưng thực tế cho thấy, quý vị đã không đưa ra được một bằng chứng nào về sự kỳ thị liên quan đến Dụ số 10. Các Tông phái cũng như các Giáo Hội và Hội Phật Học không đưa ra được một văn kiện pháp lý nào từ Bộ Nội Vụ của VNCH đã ban ra để áp dụng cho các Hội Phật Giáo từ Dụ số 10. Chính Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ khi trả lời Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc đã khẳnh định rằng Chính phủ VNCH không hề áp dụng Dụ số 10 cho Phật Giáo. Nếu có một Nghị định nào được ký ban ra cho Phật Giáo liên quan đến Dụ số 10 thì đã có trong Công Báo và quý vị lãnh đạo phe đấu tranh chắc chắn đã không dại gì mà không đưa ra như một bằng chứng cụ thể để phản đối Chính Phủ. Người viết đã tìm đọc tài liệu, nhưng cũng không thấy một Nghị Định nào của Bộ Nội Vụ VNCH liên quan đến Dụ số 10 được đưa ra áp dụng cho một Tông phái Phật giáo. Nói khác đi, các Tông phái và các Hội Phật Giáo cũng như các Tôn Giáo khác đã có sẵn, vẫn tự do sinh hoạt như một điều hiển nhiên, chẳng cần khai báo gì theo Dụ số 10 mà phía Chính Phủ cũng chẳng quan tâm. Vậy thì Dụ số 10 chỉ là cái cớ để xách động đấu tranh nhằm lật dổ Chính quyền Ngô Đình Diệm mà thôi. Thực chất nó chỉ là một văn kiện pháp lý bình thường của bất cứ quốc gia nào trên thế giới kể cả Hoa Kỳ áp dụng cho các đoàn thể, hiệp hội khi khai báo để có tư cách pháp nhân.

Trong văn thư gửi cho Dương Văn Minh nói trên, Thượng Tọa Thích Tâm Châu đã nói lên ước vọng của phe tranh đấu là muốn thống nhất nền Phật giáo Việt Nam. Thượng tọa khẳng định: “Nhân danh Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo, tôi kính gởi Trung Tướng đính hậu, bản Hiến Chương cùa Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, danh hiệu mới của nền Phật Giáo tại VN.” Thống nhất nghĩa là nền Phật Giáo Việt Nam từ lâu đời đến nay có nhiều Tông phái khác nhau, đứng rời rạc, biệt lập, không hay chưa ngồi lại với nhau. Đây là cơ hội phải làm là thống nhất. Nhưng thống nhất được không?

Nhìn lại Phật giáo ở Việt Nam từ 50 năm qua, hầu như ai theo dõi tình hình cũng thấy chuyện thống nhất đã đi từ thất bại này đến thất bại khác. Tham vọng của các nhà tranh đấu là muốn thống nhất cả nền Phật Giáo Việt Nam với danh xưng mới GHPGVNTN. Nhưng thực tế, Đại Hội thống nhất đấu tiên từ 27-12-1963 đến 4-1- 1964 chỉ quy tụ được 11 Tông phái. Thời gian quy tụ chưa được bao lâu thì bắt đầu rạn nứt. Rạn nứt đầu tiên là giữa giới lãnh đạo GHPGVNTN với Hội Phật Học Nam Việt do cư sĩ Chánh Trí Mai Trọ Truyền làm Hội Trưởng. Lý do rất đơn giản. Đó là vấn đề Tự Viện. Nói khác đi là các cơ sở. Chương VI của Bản Hiến Chương nói vệ Tự Viện, nơi điều 27 nguyên văn như sau:

Ðiều thứ 27: 

Các Quốc tự, các ngôi chùa làng, các ngôi Tổ đình, các ngôi chùa xây dựng bởi:

a)      Các vị Tăng sĩ. 

b)     Các Hội Ðoàn Phật Giáo cũ được coi là Tự Viện của GHPGVNTN. Giáo Hội nầy có nhiệm vụ giám hộ và bảo vệ với sự nhìn nhận quyền tư hữu của các Tự Viện đó.

Khi ký Sắc Luật số 158/SL/CP ngày 14-5-1964, Nguyễn Khánh đã thấy điều này không ổn nên đã giải thích rõ thêm nơi Điều 4: “Riêng về điều 27 của Hiến Chương ngày 4 tháng 1 năm 1964, quyền Giám Hộ và bảo vệ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đối với các loại tự viện mà điều ấy đã ghi, cố nhằm mục dích giám hộ và bảo vệ phương diện tinh thần giáo lý và thờ phượng, để tránh phương hại cho Phật Pháp.” Nói rõ hơn, thống nhất nhưng các ông không có quyền chiếm đoạt cơ sở (Tự viện) của người ta làm của mình theo lối tập quyền, tập sản như  Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã gay gắt tố cáo phe Thích Trí Quang trong Bạch Thư 1993.

Rõ ràng điều 27 này đã nói lên sự tham lam vô bờ của một số nhân vật lãnh đạo GHPGVNTN mà đầu não là TT Thích Trí Quang, người soạn thảo Hiến Chương, không hợp tình hợp lý. Đây là một âm mưu muốn chiếm đoạt các cơ sở (bất động sản) bằng pháp lý được thể hiện qua điều 27 của bản Hiến Chương. Ở Sài Gòn, có lẽ không mấy ai là không biết ngôi Chùa Xá Lợi nguy nga là cơ sở và là tài sản của Hội Phật Học Nam Việt do cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Hội Trưởng. Thời gian tranh đấu, giới lãnh đạo không họp ở Chúa Ấn Quang vì các chúc sắc ở đây không chấp thuận nên TT Thích Tâm Châu phải xin Cư sĩ Mai Thọ Truyền cho mượn Chùa Xá Lợi làm nơi hội họp. Sau ngày 1-11-1963, Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền đã  “mời” quý vị ấy đi chỗ khác, nên các ông tranh đấu phải chạy về Chùa Ấn Quang. Bây giờ cơ hội thống nhất xẩy ra, các ông lại muốn dùng Hiến Chương để “lãnh đạo” luôn cà nhân sự và cơ sở của người ta. Nhưng Cư sĩ Mai Thọ Truyền và Hội Phật Học Nam Việt không đồng ý, nếu không nói là cự tuyệt và sau đó Hội Phật Học Nam Việt đã rút ra khỏi tổ chức GHPGVNTN. Tuệ Giác trong Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử, đã ghi lại chi tiết này nguyên văn như sau: “Ngoài ra Thượng Tọa Viện Trưởng còn kêu gọi các Giáo phái Phật giáo chưa có mặt trong Giáo Hội Thống Nhất hãy hoan hỉ hòa mình vào Giáo Hội Thống Nhất như Giáo Hội Cổ Sơn Môn đã thực hiện. Với chủ trương kết nạp tất cả các môn phái Phật giáo tại Việt Nam trong tình huynh đệ thành một tổ chức thống nhất để giúp cho nhau trên đường tu và hành đạo đem lại sự vẻ vang cho Phật giáo và thịnh vượng cho dân tộc, Thượng Tọa đã tiếp xúc và đi thăm thiện chí giáo phái Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, Phật giáo Cao Đài Tây Ninh và Kiến Hòa để thực hiện mục đích trên. Ngoài ra, Giáo Hội Phật giáo VN Thống Nhất còn kêu gọi Ban Quản Trị Phật Học Nam Việt hãy sắp xếp nội bộ để chuyển giao quyền lãnh đạo cho Giáo Hội Thống Nhất như mười tập đoàn trong Giáo Hội thống nhất đã thi hành.” (Phật Giáo Việt Nam Tranh Đấu Sử của Tuệ Giác, trang 427).

Thật ra, sau khi Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo kết thúc với Bản Hiến Chương do Trưởng phái đoàn của 11 Tông phải ký tên, nhóm tranh đấu muốn đi xa, như Tuệ Giác đã viết là vận động Phật Giáo Hòa Hảo và “Phật giáo Cao Đài” cũng “các Giáo phái Phật giáo chưa có mặt trong Giáo Hội Thống Nhất hãy hoan hỉ hòa mình vào Giáo Hội Thống Nhất như Giáo Hội Cổ Sơn Môn đã thực hiện”. Nhưng như mọi người đã thấy Phật Giáo Hòa Hảo và Đạo Cao Đài đã dứt khoát không tham gia sau khi chứng kiến Hội Phật Học Nam Việt rút ra khỏi tổ chức GHPGVNTN. Phật Giáo Hòa Hảo và Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức Đạo Cao Đài là hai tôn giáo lớn ở Miền Nam có hàng triệu tín đồ, tồ chức và sinh hoạt khá chặt chẽ với nhiều các cơ sở (Tòa Thánh, Thánh Địa, Thánh Thất...). Hơn nữa, lập trường chính trị và thành tích chống Cộng của họ rất rõ ràng, trong khi phía lãnh đạo GHPGVNTN lập trường thì ngả nghiêng, có tiếng mà không có tiếng, thiếu thực lực. Cho nên chẳng ai dại gì đem của mình trao cho mấy ông bụng chứa đầy “tham, sân, si”.

Thật ra, ngay từ đầu trong nội bộ lãnh đạo GHPGVNTN cũng đã bắt đầu phân hóa vì tham vọng và lập trường chánh trị, điển hình bằng hai nhân vật TT Thích TâmChâu, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và TT Thích Trí Quang, Tổng Thư Ký Viện Tăng Thống.  TT Thích Tâm Châu là phe Phật giáo Miền Bắc và TT Thích Trí Quang là phe Phật Giáo Miền Trung. TT Thích Tâm Châu là người tương đối ôn hòa, biết tiến, biết thoái. TT Thích Trí Quang là người cực đoan và đầy tham vọng cả về Tôn giáo lẩn chánh trị, muốn làm bá chủ cả Phật giáo lẫn Chính quyền.  Chính vì thế, không một Chính quyền nào sau ngày 1-11-1963 làm vừa lòng Thích Trí Quang và phe nhóm. Suốt mấy năm trời phe nhóm Thích Trí Quang cứ chèn ép TT Thích Tâm Châu, xách động Tăng ni và Phật tử biểu tình chống đối Chính quyền, và từ đó đôi bên đưa đến bất hòa trầm trọng. Sau cùng, phe Thích Trí Quang đã dùng đến biện pháp bạo lực, sắt máu để thanh toán TT Thích Tâm Châu như trong Bạch Thư của Hòa Thượng (Canada 1993) đã tố đích danh dưới đây:

“Tôi là một vị Tăng miền Bắc cùng sống trong Viện Hóa Đạo gồm có 12 vị. Tôi không khác một con ếch bỏ trong giỏ cua. Tôi tận lực làm việc không mong một chút danh lợi nào, nhưng tôi bị chèn ép đủ mọi mặt, đến  nỗi nhiệm kỳ 2 năm, mà tôi phải xin nghỉ 7 lần, cuối cùng Hòa Thượng Tăng Thống khuyên tôi, tôi phải vâng lời. Ngoài sự bị chèn ép, còn một nỗi khó khăn bởi Hiến Chương do Thượng Tọa Trí Quang chủ trương áp đặt. Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chủ trương xóa bỏ các Giáo Phái, Hội Đoàn, mà chỉ cần giám hộ các chùa, thu nạp Tăng Ni, Phật tử vào trong khuôn khổ Giáo Hội của mình và đặt dưới sự điều hành của Viện Hóa Đạo gồm 12 nhân vật mà thôi. Do đó, khi tôi đảm nhận trọng trách thực hiện Hiến Chương thì Thượng Tọa Giới Nghiêm, Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam viết thư cho tôi, mạt sát thậm tệ và quyết định không gia nhập. Các vị Thủ Lãnh của các Giáo Phái, Hội Đoàn khác không chịu xóa bỏ, trực diện chỉ trích hai chữ "Thống Nhất" và cho là "Nhất Thống". Các vị rút ra khỏi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.”

 “Tôi về tới Việt Nam Quốc Tự, bước chân vào cửa văn phòng Viện Trưởng Viện  Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư : YÊU CẦU CÁC THƯỢNG TỌA TRONG VIỆN HÓA ĐẠO, KHÔNG ĐƯỢC THEO THƯỢNG TỌA TÂM CHÂU".  Tôi định lên chánh điện Việt Nam Quốc Tự lễ Phật, tại đây có mấy các vị Tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện Việt Nam Quốc Tự và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của họ.  Hóa Đạo của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi: "MUỐN QUẦN CHÚNG TUÂN THEO KỶ LUẬT THÌ PHẢI THEO QUẦN CHÚNG". Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và huyết thư "CẤM TÔI KHÔNG ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG NỮA". Và, người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị Tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức (Bàn Cờ) định sang chùa Từ Quang giết tôi. May có Sư Cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát. (4) 

(Trích Bạch Thư của Hòa Thượng Thích Tâm Châu Về Vấn Đề Chia Rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự, (1994) Tổ Đình Từ Quang (2176 Ontario East, Montréal, Québec  H2K, Canada. Tel: 514-525-8122.

Nhưng vẫn chưa kết, phe Thích Trí Quang liền chuyển mũi dùi ra Miền Trung vì ở đó cớ cơ sở hậu thuẫn mạnh mẽ để tiếp tục đấu tranh chống Chính quyền Thiệu Kỳ bằng việc thành lập Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc tạo ra một biến loạn chưa từng thấy trong Lịch sử Phật Giáo, đưa cả bàn thờ Phật xuống đường làm vật cản lối Quân Đội và Cảnh Sát ra dẹp loạn. Cuộc dẹp loạn này có một không hai trong Lịch sử, mạnh gấp ngàn lần cách đối phó của Đệ Nhật Cộng Hòa đối với phe Phật Giáo tranh đấu hồi tháng 5/1963 mà kết quả là phong trào gây rối loạn do Thích Trí Quang xách động bị dẹp tan. Thích Trí Quang bị chính quyền Thiệu Kỳ bắt vô Sài Gòn “giam lỏng” ở Dưỡng Đường (Clinique) của BS Nguyễn Duy Tài ờ đường Duy Tân.  Cái lạ lả với cuộc dẹp loạn của Thiệu Kỳ mạnh gấp ngàn lần thì các ông không dám hé miệng kêu oan mà cứ la làng chuyện Ngô Đình Diệm đàn áp và kỳ thị Tôn giáo qua Dụ số 10. Thật sự thì TT Ngô Đình Diệm có ban hành Dụ số 10 đâu và tại sao suốt bao năm trời (1950-1963) với bao nhiêu Chính phủ, không thấy Tông phái nào kêu ca; mà phải đợi cho đến khi CIA xúi giục, bật đèn xanh thì mới la lối om sòm. Năm 1966 khác với 1963. Nay thì CIA đã biết rõ Thích Trí Quang và phe nhóm. Năm 1963, CIA cần các ông để tạo ra hỗn loạn nhằm có cớ xúi giục và mua chuộc bọn tướng lãnh phản bội cam làm tay sai để thục hiện cuộc đảo chánh. Nhưng đến năm 1966, nhu cầu để lật đổ một Chính quyền có lập trường cứng rắn, khó bảo như chính quyền của TT Ngô Đình Diệm không còn nữa. Phe Phật Giáo đấu tranh như múi chanh hết nưóc thì họ giục vô thùng rác, không một chút thương tiếc!

Theo Sắc Luât Nguyễn Khánh ký thì “Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950, cùng luật lệ trái với Sắc Luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.” Sau quyết định này, VNCH không có một Luật nào quy định quy chế Tôn giáo cho nên GHPGVNTN ở  trên pháp luật. Có lẽ nghĩ như thế nên phe Phật Giáo Ấn Quang đã trở thành một thứ kiêu binh, kiêu tăng tha hồ lộng hành, thao túng. Nội bộ chia thành hai phe: Phe Ấn Quang và phe Việt Nam Quốc Tự. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng như Hoa Kỳ không thể chịu nổi sự lộng hành phá hoại của phe Ấn Quang nên TT Nguyễn Văn Thiệu đã ký Sắc Luật 23/67 ngày 18-7-1967 công nhận khối Phật Giáo Việt Nam Quốc Tự thuộc phe TT Thích Tâm Châu và do đó phe Ấn Quang ở ngoài vòng luật pháp. Từ đây phe Ấn Quang bị mất thế và càng ngay càng đi vào thế cô lập. Củng từ đây, lập trường của Phật Giáo Ấn Quang bắt đầu ngả hẳn sang phía Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một công cụ bù nhìn của Cộng Sản Bắc Việt đồng thời tiếp tay chúng xâm lăng miền Nam. Xin đọc những hàng dưới đây trích trong Bạch Thư của Hòa Thượng Thích Tâm Châu về “Vấn đề Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc và các tạp sự sau đó” để thấy rõ thục chất của Phe Ấn Quang

“Đầu thập kỷ 1970. hòa đàm Paris đang tiến đến hồi mặc cả có lợi nhiều cho Cộng Sản, thì tại Việt Nam phe tranh đấu Ấn Quang, do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã cho thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, do ông Vũ Văn Mẫu được coi là Thủ Lãnh. Phong trào này không được sự tán thành của hai Thượng Tọa Thiện Minh và Huyền Quang. Vì hai Thượng Tọa này không tán thành phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, nên Thượng Tọa Trí Quang và phe nhóm của Thượng Tọa đã tung ra một chiến dịch bôi bẩn Thượng Tọa Thiện Minh và Thượng Tọa Huyền Quang một cách tàn nhẫn. Cũng vì chiến dịch này, trong suốt một năm, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang không thể triệu tập được Đại Hội để bầu cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo vì Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã viên tịch, khiến cho Thượng Tọa Thích Trí Thủ là một vị Tổng Vụ Trưởng phải đứng lên xử lý thường vụ.

Tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 30-4-1975, là ngày cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Những bộ mặt thân Cộng Sản đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.

- Khi quân Cộng Sản từ rừng về Sài Gòn, đã có lần 500  Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào. 

- Ngày 19-5-1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang. 

- Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam-Bắc của Cộng Sản, một Thượng Tọa của phe  Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh Cộng Sản, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu. 

- Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là "Giáo Hội Quốc Doanh", hay "Giáo Hội Nhà Nước". Chỉ có các Thượng Tọa: Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết.”

                                                                        ***

Sau khi tấn chiếm được Miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt đã cho phe Ấn Quang ra rìa. Chúng gom lùa các sư sãi vào cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do chúng dựng lên và điều khiển. Phe Ấn Quang cũng vẫn với danh xưng là GHPGVNTN rút cục chỉ còn số nhỏ đếm trên đầu ngón tay ở trong tính trạng bất hợp pháp dưới chế độ độc tài Cộng Sản mà các ông đã tiếp tay , nhưng lại tiếp tục cắn xé, tranh chấp nhau cả ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Và Hòa Thượng Thích Tâm Châu kết luận:

“Phật Giáo tôn trọng tự do nhân chủ tuyệt đối, không chủ trương "tập quyền" cho một cá nhân hay một nhóm người. Vì, hễ có tập quyền là có độc tài, có bè phái, có những thủ đoạn để củng cố quyền lực.  Gần một thế kỷ nay, nhân loại bị đau khổ đến cùng cực bởi nạn "tập quyền" của Cộng Sản. Ba mươi năm nay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chủ trương "tập quyền", chưa thấy đem lại tia hy vọng hòa hợp và an lạc cho đại chúng. Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ triền miên trong sự chia rẽ, đã có hai, ba tổ chức thống nhất. Phật Giáo Việt Nam tại Úc, "tập quyền" thống nhất trong tay một nhân vật tham độc, thiếu tài đức, gây bè phái, kỳ thị Trung, Bắc, hãm hại huynh đệ đồng đạo, mặc cho gần trăm ngàn Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Úc không nơi nương tựa, mặc cho danh dự Phật Giáo Việt Nam bị tổn thương nặng nề!” 

Luật Nhân quả của nhà Phật đã ứng nghiệm với phe Ấn Quang. Hãy nhìn lại và tự hỏi: Pháp nạn ở đâu? Dụ số 10, chế độ Việt Nam Cộng Hòa hay CIA? Chẳng phải đâu xa: chính là mình gây ra cho mình. Pháp nạn ở trong hành động ác ôn của phe Ấn Quang. Đừng đổ thừa cho Dụ số 10. Đừng đồ thừa cho Ngô Đình Diệm. Đừng đổ thừa cho Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan. Chính Thích Trí Quang và phe cánh là Pháp nạn của Phật Giáo. Khoác áo tu hành mà không từ bỏ Tham Sân Si, còn gây bao thứ tội ác nên giờ đây phải lãnh đủ. Gieo gió thì gặt bão!

San Jose ngày 20-5-2014