Sự Tích Con Yêu Râu Xanh Ở Việt Nam

Toàn văn Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm

- Ủy viên Bộ Chính trị, thành viên Thường trực Ban Bí thư, Chủ nhiệm UB Kiểm tra TƯ Trần Quốc Vượng thay mặt Bộ Chính trị vừa ký ban hành Quy định 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Quy định này nêu rõ mức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ đối với từng vi phạm cụ thể. VietNamNet xin giới thiệu toàn văn.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi, đối tượng

1- Quy định này quy định nội dung vi phạm và hình thức kỷ luật đối với đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, nghị quyết, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị. Trường hợp đảng viên vi phạm những nội dung chưa có trong Quy định này thì căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng Quy định này để xử lý kỷ luật cho phù hợp.

2- Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận; nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thi hành kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và những nội dung nêu trong Quy định này.

Điều 2. Nguyên tắc xử lý kỷ luật

1- Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời.

2- Việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm phải thực hiện đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

3- Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.

Trong xử lý kỷ luật, phải kết hợp xem xét kết quả tự phê bình và phê bình với kết quả thẩm tra, xác minh của tổ chức đảng để bảo đảm kết luận dân chủ, khách quan, trung thực, đầy đủ, chính xác. Cần làm rõ nguyên nhân, phân biệt sai lầm, khuyết điểm của đảng viên do trình độ, năng lực hoặc động cơ vì lợi ích chung hay vì lợi ích cá nhân, cục bộ mà cố ý làm trái; vi phạm nhất thời hay có hệ thống; đã được giáo dục, nhắc nhở, ngăn chặn nhưng vẫn làm trái; ý thức tự phê bình và phê bình kém, không tự giác nhận lỗi, không bồi hoàn vật chất đầy đủ, kịp thời; có hành vi đối phó, gây khó khăn, trở ngại cho việc kiểm tra; phân biệt đảng viên khởi xướng, tổ chức, quyết định với đảng viên bị xúi giục, lôi kéo, đồng tình làm sai.

4- Hình thức kỷ luật: Đối với đảng viên chính thức gồm: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ; đối với đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.

Đảng viên vi phạm đến mức khai trừ thì phải khai trừ, không áp dụng hình thức xóa tên; cấp ủy viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không cho thôi giữ chức; đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, không đủ tư cách thì xóa tên trong danh sách đảng viên.

5- Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không "xử lý nội bộ"; bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ; nếu bị xử phạt bằng hình phạt thấp hơn cải tạo không giam giữ hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị xử phạt hành chính thì tùy nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà xem xét, thi hành kỷ luật đảng một cách thích hợp.

6- Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật. Đảng viên bị thi hành kỷ luật về Đảng thì cấp ủy quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ đạo hoặc đề nghị ngay các tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, phải xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể (nếu có) theo quy định của cơ quan nhà nước và điều lệ của đoàn thể.

Khi các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội đình chỉ công tác, khởi tố bị can hoặc thi hành kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó biết. Chậm nhất là 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, tổ chức đảng quản lý đảng viên phải xem xét, xử lý kỷ luật về Đảng.

7- Một nội dung vi phạm chỉ bị xử lý kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong thời điểm kiểm tra, xem xét xử lý vụ việc, nếu đảng viên có từ hai nội dung vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng nội dung vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật; không tách riêng từng nội dung vi phạm của đảng viên để xử lý kỷ luật nhiều lần với các hình thức kỷ luật khác nhau.

8- Trong cùng một vụ việc có nhiều đảng viên vi phạm thì mỗi đảng viên đều phải bị xử lý kỷ luật về nội dung vi phạm của mình.

9- Tổ chức đảng có thẩm quyền khi thi hành kỷ luật oan, sai đối với đảng viên phải chủ động thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định đó; nếu tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật đối với đảng viên mà tổ chức đảng đó có vi phạm trong việc xem xét, xử lý kỷ luật đến mức phải kỷ luật thì cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định.

10- Sau một năm, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ), nếu đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên hết hiệu lực.

11- Không được luân chuyển, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm; phong, tặng, công nhận các danh hiệu của Đảng và Nhà nước đối với đảng viên đang được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thi hành kỷ luật.

Điều 3. Thời hiệu xử lý kỷ luật

1- Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật.

a) Thời hiệu xử lý kỷ luật đảng được quy định như sau:

- 5 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách.

- 10 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.

b) Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật được quy định tại Điểm a Khoản này, đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới.

2- Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; vi phạm về chính trị nội bộ; về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

Điều 4. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mức kỷ luật đảng

1- Những trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau được xem xét giảm nhẹ mức kỷ luật:

a) Chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ chức, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm trước khi bị phát hiện.

b) Chủ động báo cáo, cung cấp thông tin, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm.

c) Chủ động khắc phục hậu quả vi phạm và tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra.

d) Vi phạm do nguyên nhân khách quan hoặc do bị ép buộc nhưng đã chủ động báo cáo với tổ chức.

đ) Vi phạm do phải thực hiện chủ trương, quyết định, mệnh lệnh sai trái của cấp trên.

2- Những trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau phải xem xét tăng nặng mức kỷ luật:

a) Đã được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giáo dục, nhắc nhở mà không sửa chữa.

b) Quanh co, che giấu hoặc không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm.

c) Bao che cho người cùng vi phạm; trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo vi phạm hoặc người cung cấp chứng cứ vi phạm.

d) Cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm; sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ, lập hồ sơ, chứng cứ giả.

đ) Đối phó, cản trở, gây khó khăn, trở ngại trong quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ vi phạm.

e) Vi phạm do lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, thực hiện chính sách xã hội và an ninh, quốc phòng.

g) Vi phạm gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả.

h) Vi phạm nhiều lần, có hệ thống, bị xử lý kỷ luật nhiều lần.

i) Vi phạm có tổ chức; là người chủ mưu, khởi xướng hành vi vi phạm.

k) Ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm.

l) Ép buộc, hướng dẫn hoặc tạo điều kiện cho người khác tạo lập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả; che giấu, sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ, hồ sơ, tài liệu.

Điều 5. Các trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật

1- Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật.

2- Đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 6. Giải thích từ ngữ

1- Đảng viên vi phạm: Là việc đảng viên không tuân theo hoặc làm trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội mà đảng viên là thành viên.

2- Cố ý vi phạm: Là việc đảng viên đã được thông báo, phổ biến, biết về quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm nhưng vẫn thực hiện.

3- Vô ý vi phạm: Là việc đảng viên không nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nên đã vi phạm hoặc tuy ý thức được hậu quả về hành vi của mình nhưng vì quá tự tin cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra nên dẫn đến vi phạm.

4- Tái phạm: Là việc đảng viên vi phạm đã được kiểm điểm rút kinh nghiệm hoặc đã bị xử lý kỷ luật nhưng lại vi phạm nội dung đã được kiểm điểm hoặc bị xử lý.

5- Hậu quả do hành vi vi phạm của đảng viên gây ra:

a) "Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại không lớn, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt, công tác.

b) "Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại lớn, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm uy tín của bản thân và tổ chức đảng, Cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt, công tác.

c) "Vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại rất lớn, gây dư luận xấu, rất bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất uy tín của bản thân và tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt, công tác.

d) "Vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại đặc biệt lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng, gây phẫn nộ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất tư cách của đảng viên và vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác.

6- Thiếu trách nhiệm: Là việc đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao không đầy đủ; không thực hiện đúng nguyên tắc, chế độ, thủ tục, quy trình, quy phạm; không đúng tiêu chuẩn, điều kiện hoặc thời gian theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công việc cụ thể đó.

7- Buông lỏng quản lý: Là việc đảng viên có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý nhưng không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không chấp hành quy định của cấp trên; không ban hành các quyết định, quy chế, quy định, quy trình; không có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoặc đôn đốc, kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý.

Chương II

VI PHẠM VỀ CHÍNH TRỊ VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, SINH HOẠT ĐẢNG

Điều 7. Vi phạm về quan điểm chính trị và chính trị nội bộ

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Bị người khác xúi giục, lôi kéo, mua chuộc mà có hành vi nói, viết, lưu trữ, tán phát, xuất bản, cung cấp thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

b) Phụ họa, a dua theo những quan điểm trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thiếu trách nhiệm trong đấu tranh chống biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, chống diễn biến hòa bình.

c) Có biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng.

d) Không trung thực trong khai lý lịch, lịch sử bản thân và bổ sung lý lịch đảng viên.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Bị xúi giục, dụ dỗ hoặc do nhận thức không đúng mà nói, viết, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước; làm những việc mà pháp luật không cho phép.

b) Xúi giục, kích động, ép buộc người khác nói, viết, lưu giữ, tán phát, xuất bản, cung cấp những thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

c) Bị dụ dỗ, lôi kéo hoặc bị cưỡng ép tham gia các đảng phái, tổ chức chính trị hoạt động trái phép.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc.

b) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng".

c) Cố ý đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; truyền thống của dân tộc, của Đảng và Nhà nước.

d) Lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoạt động gây nguy hại đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

đ) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

e) Hoạt động trong các đảng phái, tổ chức chính trị phản động.

g) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

h) Tác động, lôi kéo, định hướng dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng.

i) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

k) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Điều 8. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Thiếu trách nhiệm trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

b) Bị kích động, xúi giục, mua chuộc, lôi kéo, cưỡng ép tham gia các hoạt động gây mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ.

c) Bị xúi giục, lôi kéo vào những việc làm trái nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; vi phạm quy chế dân chủ, quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng, các quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác.

d) Đe dọa trả thù, trù dập người chất vấn, góp ý, phê bình, tố cáo mình dưới mọi hình thức.

đ) Không chấp hành chế độ báo cáo, chế độ thông tin và trả lời chất vấn theo quy định của Đảng và Nhà nước.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phủ quyết ý kiến của đa số thành viên khi thông qua nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận thuộc thẩm quyền của tập thể.

b) Tham gia hoặc xúi giục, cưỡng ép người khác tham gia các hoạt động chia rẽ, cục bộ gây mất đoàn kết nội bộ.

c) Lừa dối cấp trên, báo cáo sai, xuyên tạc sự thật; che giấu khuyết điểm, vi phạm của bản thân, của người khác hoặc của tổ chức; tạo thành tích giả; cơ hội, kèn cựa, địa vị, độc đoán, chuyên quyền.

d) Cục bộ, bè phái, độc đoán, chuyên quyền trong chỉ đạo, điều hành dẫn đến vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

đ) Ban hành văn bản hoặc có việc làm trái với nghị quyết, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của cấp ủy, tổ chức đảng.

e) Lợi dụng tập trung dân chủ để vận động cá nhân, chi phối tập thể, quyết định theo ý chí chủ quan làm lợi cho cá nhân, người thân, phe nhóm, dòng họ.

g) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trấn áp cấp dưới, trù dập người có ý kiến thuộc về thiểu số hoặc trái với ý kiến của mình.

h) Không chấp hành các quyết định lãnh đạo, chỉ đạo, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của tổ chức đảng cấp trên và cấp mình.

i) Cố ý nói và làm trái nghị quyết, quyết định, kết luận đã được tập thể thống nhất thông qua.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Vô tổ chức, vô kỷ luật, bỏ vị trí công tác nhiều lần không có lý do chính đáng; có hành vi chống lại các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

b) Lợi dụng quyền dân chủ để bè phái, lợi ích nhóm hoặc lợi ích cục bộ gây mất đoàn kết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi mình sinh hoạt.

c) Trả thù người góp ý, đấu tranh, phê bình, tố cáo hoặc người cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vi phạm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân mình.

Điều 9. Vi phạm các quy định về bầu cử

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Được phân công nhiệm vụ tổ chức, thực hiện bầu cử nhưng thiếu trách nhiệm kiểm tra, thẩm định, xem xét hồ sơ xin ứng cử.

b) Thực hiện không đúng, không đầy đủ nguyên tắc, quy trình, thủ tục về bầu cử.

c) Không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình về bầu cử theo quy định của pháp luật hoặc có hành vi làm mất an ninh trật tự nơi bầu cử.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc ảnh hưởng của người có chức vụ, quyền hạn tác động, gây áp lực đến các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền để đề cử người thân của mình vào các chức danh lãnh đạo của tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội.

b) Tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội (theo quy định phải do tổ chức đảng giới thiệu) khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép.

c) Có trách nhiệm thẩm định, xét duyệt nhân sự, nhưng cố tình đưa người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để bầu vào các chức danh lãnh đạo của tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội.

d) Không trung thực trong việc kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử; có hành vi gian dối trong thực hiện các quy định về bầu cử.

đ) Có hành vi mua chuộc, xúi giục, cưỡng ép hoặc vận động bầu cử trái quy định; cản trở, đe dọa người khác thực hiện quyền ứng cử, đề cử hoặc bầu cử theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước.

e) Không trung thực trong việc kê khai, nhận xét, xác nhận hoặc thẩm định hồ sơ, lý lịch, tài sản, thu nhập của người ứng cử theo quy định về bầu cử.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tổ chức thực hiện việc giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc làm sai lệch kết quả bầu cử.

b) Có hành vi, việc làm phá hoại cuộc bầu cử.

c) Tổ chức lực lượng, phe nhóm, dòng họ để vận động người tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử vào các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trái quy định.

Điều 10. Vi phạm về tuyên truyền, phát ngôn

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Tuyên truyền, sao chép, tán phát, cung cấp thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung xấu.

b) Tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí và các phương tiện truyền thông khác, vi phạm Luật Báo chí, Luật Xuất bản và những quy định khác của Đảng và Nhà nước về phát ngôn, cung cấp thông tin, tuyên truyền, xuất bản.

c) Phát ngôn hoặc cung cấp những thông tin, tài liệu, văn bản của các đề án, dự án đang trong quá trình soạn thảo mà theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước chưa được cấp có thẩm quyền cho phép phổ biến.

d) Không đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính theo quy định của pháp luật.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Phát ngôn trái với quan điểm, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng và pháp luật của Nhà nước; loan truyền những thông tin không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

b) Cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ chức, cá nhân, cho báo chí những vấn đề thuộc bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật. Cung cấp thông tin chưa được phép, sai sự thật, không trung thực cho báo chí.

c) Cung cấp thông tin cho báo chí về các vụ án đang trong quá trình điều tra chưa được phép công bố hoặc chưa xét xử. Cung cấp, đăng tải các thông tin chi tiết phục vụ cho kết luận vụ việc kiểm tra; những vụ việc đang trong giai đoạn kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán chưa có kết luận hoặc chưa được phép công bố theo quy định.

d) Cung cấp thông tin gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ đối ngoại và trật tự, an toàn xã hội.

đ) Tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

e) Trả lời phỏng vấn, cho đăng tải tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội có nội dung sai sự thật, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử.

g) Lợi dụng việc phát ngôn, chất vấn, trả lời chất vấn, nhân danh việc phản ánh, góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng, dự thảo Hiến pháp, pháp luật, thư ngỏ, hồi ký để đưa ra các quan điểm, thông tin gây tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện có dụng ý xấu đối với tổ chức, cá nhân.

h) Sáng tác, sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục Việt Nam, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội; tán phát bài viết, bài nói, bài phỏng vấn, hồi ký, hình ảnh có nội dung không đúng sự thật.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Không chấp hành kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, đã để lộ thông tin, tán phát tài liệu, hiện vật không đúng nguyên tắc, chế độ quy định; tung tin sai lệch về nội bộ Đảng, gây tác động xấu đến ổn định chính trị, kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và nhân dân, để kẻ xấu và các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá, hạ thấp uy tín của Đảng, chống phá Nhà nước.

b) Lợi dụng dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; cố ý nói, viết, lưu giữ trái phép hoặc tán phát rộng rãi các thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng hoặc đưa lên mạng những nội dung chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

c) Kích động, lôi kéo người khác tham gia hội thảo, tọa đàm không được tổ chức có thẩm quyền cho phép, có nội dung trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

d) Lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

đ) Đảng viên khi có những việc làm sai trái, đã được cấp có thẩm quyền nhắc nhở, giải thích nhưng không tiếp thu, tiếp tục có bài nói, viết, phát ngôn, tán phát hồi ký, đơn, thư công kích sự lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ, vu khống làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Điều 11. Vi phạm trong công tác tổ chức, cán bộ

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để bản thân hoặc người khác được bầu, chỉ định, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề cử, ứng cử, đi học, thi nâng ngạch, nâng lương, đi nước ngoài trái quy định.

b) Chỉ đạo hoặc yêu cầu đề bạt, bổ nhiệm người có vi phạm, chưa hết thời hiệu bị kỷ luật hoặc không đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

c) Thực hiện không đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình về công tác cán bộ; không chấp hành quy định về công tác cán bộ; làm sai lệch hoặc tự ý sửa chữa tài liệu, hồ sơ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; nhận xét, đánh giá cán bộ không có căn cứ, thiếu trung thực, không khách quan.

d) Cố ý không chấp hành quyết định bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, phân công công tác, nghỉ chế độ, chuyển sinh hoạt đảng theo quy định.

đ) Thực hiện việc thẩm định, tham mưu, đề xuất, quyết định tiếp nhận, tuyển dụng, cho thi nâng ngạch, đi học, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, giới thiệu bầu, ứng cử, khen thưởng người thân (bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột) không đúng quy hoạch, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện.

e) Chỉ đạo hoặc thẩm định, tham mưu, đề xuất, thực hiện việc tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí công tác, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm, luân chuyển, điều động, nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật không đúng nguyên tắc, quy trình, quy định; quy hoạch, đào tạo, cử người đi công tác nước ngoài không đủ tiêu chuẩn.

g) Làm mất thẻ đảng viên không có lý do chính đáng hoặc sử dụng thẻ đảng viên sai mục đích; thực hiện không đúng quy định về chuyển sinh hoạt đảng của đảng viên hoặc nộp hồ sơ chuyển sinh hoạt đảng không đúng quy định; không thực hiện viết phiếu báo chuyển sinh hoạt đảng của đảng viên.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Vì động cơ cá nhân mà điều động, cho thôi việc, cho thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, kỷ luật, giải quyết chế độ, chính sách không đúng quy định.

b) Chỉ đạo hoặc thực hiện việc tiếp nhận, tuyển dụng, bố trí, sắp xếp vào làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức mình những người mà pháp luật không cho phép.

c) Lợi dụng các quy định về luân chuyển, định kỳ chuyển đổi vị trí công tác để trù dập đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

d) Bao che cho cán bộ, công chức, viên chức đang bị điều tra, thanh tra, kiểm tra, bị xem xét kỷ luật.

đ) Thiếu trách nhiệm hoặc vì động cơ cá nhân mà chỉ đạo hoặc thực hiện việc thẩm định, đề xuất, quyết định việc tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, giới thiệu bầu, ứng cử, khen thưởng không đúng tiêu chuẩn, điều kiện hoặc quyết định kỷ luật oan sai đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động.

e) Khai man thương tật, khai khống thành tích, quá trình công tác để được phong hàm, đề bạt, nâng lương, khen thưởng, công nhận danh hiệu hoặc được hưởng chế độ, chính sách trái quy định.

g) Cố ý tham mưu cho cấp trên quyết định hoặc cho ý kiến về công tác tổ chức, cán bộ không đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, tiêu chuẩn.

h) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn người đứng đầu để quyết định không đúng nguyên tắc, quy định, thẩm quyền về công tác tổ chức, cán bộ.

i) Thiếu trung thực, gương mẫu, biết mình không đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng vẫn tìm mọi cách để các Cơ quan chức năng tiếp nhận, tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu bầu, ứng cử, khen thưởng đối với mình trái quy định.

k) Thiếu trách nhiệm hoặc do động cơ cá nhân làm thất lạc, mất hồ sơ cán bộ, đảng viên, tài liệu hồ sơ của tổ chức đảng thuộc trách nhiệm quản lý; cung cấp hồ sơ cán bộ, hồ sơ đảng viên cho người không có trách nhiệm biết trái quy định.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Môi giới, nhận hối lộ trong tiếp nhận, tuyển dụng, cử tuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, bố trí công tác hoặc nâng lương, nâng ngạch, khen thưởng, phong học hàm, xét phong tặng danh hiệu vinh dự trái quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

b) Có hành vi chạy chức, bằng cấp, vị trí công tác, luân chuyển; mua chuộc để bản thân hoặc người khác được quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, chuyển đổi vị trí công tác.

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để can thiệp trái quy định vào việc tiếp nhận, tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, bố trí, sắp xếp, điều động cán bộ.

d) Làm giả hồ sơ để được xét đi học, tiếp nhận, tuyển dụng vào các cơ quan, tổ chức.

đ) Dùng thẻ đảng viên để vay tiền hoặc tài sản.

Điều 12. Vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Vô ý làm lộ những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công khai.

b) Không chấp hành nguyên tắc bảo mật, niêm phong trong việc truyền tin, vận chuyển, giao nhận hiện vật, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước.

c) Vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước trong hoạt động xuất bản, báo chí và thông tin đại chúng khác.

d) Mang hiện vật, tài liệu thuộc phạm vi bí mật của Đảng, Nhà nước ra nước ngoài trái quy định.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Cung cấp, tiết lộ trái quy định những thông tin, tài liệu, hiện vật thuộc phạm vi bí mật của Đảng, Nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

b) Phổ biến, tuyên truyền, viết bài, đăng tin những thông tin, tài liệu thuộc phạm vi bí mật của Đảng, Nhà nước không đúng đối tượng, phạm vi, thời điểm cần được phổ biến hoặc công bố.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tự nghiên cứu, sản xuất, sử dụng mật mã để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

b) Trao đổi, tán phát thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung thuộc bí mật của Đảng, Nhà nước trên mạng viễn thông, Internet và các phương tiện thông tin đại chúng khác.

Chương III

VI PHẠM CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC

Điều 13. Vi phạm trong công tác phòng, chống tội phạm

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Thiếu trách nhiệm trong thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng, chống tội phạm và trong xử lý tin báo tố giác tội phạm.

b) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu thiếu trách nhiệm, không tổ chức quán triệt, tuyên truyền về công tác phòng, chống tội phạm theo chức trách, nhiệm vụ được giao; không có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoặc không đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc phòng, chống tội phạm ở địa phương, lĩnh vực, tổ chức, cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp phụ trách.

c) Vì thành tích mà báo cáo không đầy đủ, kịp thời về tình hình tội phạm ở địa phương, lĩnh vực, cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao trực tiếp phụ trách.

d) Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Không thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao về phòng, chống tội phạm hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng, không kịp thời các quy định về thanh tra, kiểm tra, điều tra, giám định, truy tố, xét xử, thi hành án và trong việc xét đặc xá, ân giảm đối với các loại tội phạm.

b) Để vợ (chồng), con lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình tổ chức, thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng, hoặc để cấp dưới trực tiếp phạm tội nghiêm trọng hoặc bản thân bao che các vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra trong tổ chức, đơn vị, lĩnh vực, địa bàn phụ trách.

c) Báo cáo không trung thực về tình hình tội phạm xảy ra trong địa bàn, lĩnh vực, cơ quan, tổ chức, đơn vị được phân công trực tiếp phụ trách nhằm che giấu, trốn tránh trách nhiệm.

d) Bỏ lọt tội phạm, cản trở, gây khó khăn, trở ngại trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, ân giảm hoặc để hư hỏng, mất, thất lạc hồ sơ, tài liệu, chứng cứ của vụ án.

đ) Trả thù, trù dập hoặc mua chuộc người tố giác hành vi phạm tội của mình hoặc của bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột.

e) Chỉ đạo, ép buộc cấp dưới do mình trực tiếp phụ trách thực hiện sai quy định dẫn đến làm sai lệch kết quả điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc xét đặc xá, ân giảm không đúng quy định.

g) Chỉ đạo, quyết định hoặc đề xuất thay đổi biện pháp ngăn chặn trái quy định của pháp luật đối với người phạm tội.

h) Bảo kê, bao che, tiếp tay cho các hoạt động vi phạm pháp luật.

i) Cố ý tham mưu việc quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc tạm giữ, tạm giam người trái quy định của pháp luật.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ (trừ trường hợp có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội nghiêm trọng, bị xử lý hình sự):

a) Làm sai lệch hồ sơ vụ án để không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, miễn, giảm tội, thay đổi tội danh, thay đổi biện pháp ngăn chặn cho người phạm tội hoặc bao che, tiếp tay cho tội phạm.

b) Chỉ đạo, ép buộc cấp dưới do mình trực tiếp phụ trách trả thù cán bộ điều tra vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra ở tổ chức, cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp phụ trách.

c) Bảo kê, bao che cho những hoạt động phạm tội, gây án nghiêm trọng tại địa bàn mình trực tiếp theo dõi, phụ trách.

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định của ngành trong hoạt động nghiệp vụ hoặc trái quy định của pháp luật trong hoạt động tố tụng.

đ) Ép buộc, mua chuộc cá nhân hoặc tổ chức để bao che, giảm tội cho người khác.

e) Giấu giếm, không báo cáo hoặc sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ, hồ sơ, tài liệu vụ án.

g) Cố ý không quyết định khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến hết thời hiệu xử lý vụ việc vi phạm hoặc quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trái quy định pháp luật.

Điều 14. Vi phạm hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Làm trái quy định trong công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

b) Trì hoãn, lẩn tránh, không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, đầy đủ, trung thực các văn bản, tài liệu, số liệu theo yêu cầu của tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc đối phó với đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán dưới mọi hình thức.

c) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với yêu cầu, kiến nghị của đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc kết luận, quyết định của cấp có thẩm quyền.

d) Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán vượt quá thẩm quyền, phạm vi, đối tượng, nội dung ghi trong quyết định mà không được cấp có thẩm quyền cho phép.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Lợi dụng vị trí công tác can thiệp, áp đặt việc xây dựng kế hoạch, việc tiến hành kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, việc thực hiện kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong kiểm tra, thanh tra, kiểm toán để làm trái pháp luật; sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

c) Chiếm giữ, tiêu hủy tài liệu, vật chứng, làm sai lệch hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

d) Tiết lộ, cung cấp thông tin, tài liệu trái quy định về kế hoạch, nội dung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc về nội dung kết luận kiểm tra, thanh tra, kiểm toán khi chưa được người có thẩm quyền ký duyệt hay chưa được phép công bố.

đ) Phát hiện hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đến mức phải xử lý mà không chỉ đạo, quyết định hoặc không kiến nghị xử lý.

e) Giấu giếm, sửa chữa chứng từ, sổ sách hoặc thay đổi, tiêu hủy chứng cứ nhằm đối phó với các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Cố ý kết luận hoặc tham mưu kết luận sai sự thật, quyết định xử lý trái quy định để bao che cho người khác trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

b) Chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập, khống chế, vu khống người làm nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, người cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

c) Cố ý không ra quyết định kiểm tra, thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Đảng và pháp luật; kết luận sai sự thật; quyết định, xử lý trái pháp luật; báo cáo sai sự thật, bao che cho cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 15. Vi phạm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Cùng người khác tham gia viết, ký tên trong cùng một đơn tố cáo.

b) Tham gia hoặc bị người khác xúi giục, kích động, cưỡng ép, mua chuộc tham gia khiếu nại, tố cáo đông người gây mất trật tự, an toàn xã hội.

c) Có trách nhiệm thụ lý, giải quyết tố cáo nhưng tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin, tài liệu khác làm lộ danh tính người tố cáo, nội dung tố cáo; tiết lộ các thông tin, tài liệu, chứng cứ của vụ việc cho tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm biết.

d) Thiếu trách nhiệm, gây phiền hà, sách nhiễu trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc gây khó khăn, cản trở đảng viên, công dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

đ) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.

e) Không thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kết luận, quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về khiếu nại, tố cáo.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Cố ý trì hoãn hoặc trốn tránh trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

b) Làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo; báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh không đúng sự thật.

c) Cố ý không chấp hành quyết định cuối cùng về tố cáo và kết luận, quyết định giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

d) Vu cáo, vu khống hoặc cản trở người đang làm nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc can thiệp trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tung tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.

đ) Đe dọa, trả thù, trù dập, xúc phạm người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ về hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo.

e) Tổ chức, tham gia, kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo.

g) Tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, đả kích, bôi nhọ thanh danh, gây tổn hại đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tổ chức, cưỡng ép, kích động, xúi giục, giúp sức, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật hoặc gây áp lực, đòi yêu sách hoặc tập trung đông người khiếu nại, tố cáo gây rối an ninh, trật tự công cộng.

b) Lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để gây rối trật tự, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, đe dọa, xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết hoặc xâm phạm tính mạng của người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Điều 16. Vi phạm các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng tiền, tài sản của tổ chức, cá nhân do mình trực tiếp quản lý trái quy định.

b) Không chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc kê khai tài sản, thu nhập thuộc trách nhiệm được giao hoặc không kê khai, kê khai tài sản không đúng quy định.

c) Buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị, tổ chức do mình trực tiếp phụ trách nhưng không chủ động phát hiện, xử lý.

d) Tổ chức du lịch, tặng quà để lợi dụng người có trách nhiệm dẫn đến việc ban hành quyết định sai, có lợi cho bản thân hoặc cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp mà mình tham gia.

đ) Tổ chức việc giao lưu, liên hoan, gặp mặt để tặng, nhận quà với động cơ vụ lợi.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Tạo điều kiện để bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột thực hiện các dự án, kinh doanh các ngành nghề thuộc lĩnh vực mình hoặc đơn vị mình trực tiếp phụ trách trái quy định nhằm trục lợi.

b) Dùng công quỹ của Nhà nước, tập thể hoặc tiền, tài sản của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp, tài trợ để giao dịch, biếu xén, hối lộ hoặc sử dụng trái quy định.

c) Biết mà không báo cáo, phản ánh, xử lý các hành vi tham nhũng; không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng, lãng phí.

d) Có hành vi khai báo không trung thực, hợp thức hóa hồ sơ để được xét giao đất không đúng đối tượng, tiêu chuẩn; thông đồng, khai khống, nâng giá đền bù không đúng với thực tế để chiếm đoạt tiền của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong đền bù giải phóng mặt bằng.

đ) Quyết định, phê duyệt hoặc tổ chức thực hiện dự án đầu tư gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước; đầu tư công tràn lan không hiệu quả; chi tiêu công quỹ trái quy định.

e) Kê khai tài sản và giải trình về biến động tài sản, nguồn gốc tài sản không trung thực.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Mở tài khoản ở nước ngoài trái quy định; tham gia các hoạt động rửa tiền.

b) Chủ trì, tham mưu, đề xuất, tham gia ban hành các chế độ, chính sách, quy trình, thủ tục trái quy định tạo lợi ích nhóm hoặc lợi ích cục bộ nhằm trục lợi.

c) Tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh việc kê khai tài sản, thu nhập; đối phó, cản trở việc kiểm tra, giám sát, xác minh tài sản, thu nhập.

d) Cố ý không chỉ đạo và tổ chức thực hiện thu hồi hoặc cản trở hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng.

đ) Sử dụng dự thảo kết luận kiểm tra, thanh tra, kiểm toán để đe dọa đối tượng kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhằm trục lợi.

e) Cố ý chỉ đạo xử lý hành chính, kinh tế đối với hành vi tham nhũng có dấu hiệu tội phạm hoặc cho miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trái pháp luật đối với người phạm tội tham nhũng.

g) Lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che hoặc cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để làm trái quy định, trục lợi; dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng.

h) Đưa, nhận, môi giới hối lộ; môi giới làm thủ tục hành chính hoặc lợi dụng vị trí công tác để môi giới hưởng thù lao dưới mọi hình thức trái quy định. Đưa, nhận hoa hồng hoặc môi giới đưa, nhận hoa hồng trái quy định. Nhũng nhiễu, vòi vĩnh khi thực hiện công vụ.

i) Tham ô tài sản, lợi dụng chính sách an sinh xã hội và quỹ cứu trợ, cứu nạn để tham nhũng; lợi dụng việc lập các loại quỹ để trục lợi.

k) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham mưu, thẩm định, phê duyệt, đấu thầu, chỉ định thầu hoặc quyết định đầu tư, cấp phép, quyết định tỷ lệ phần vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhằm trục lợi dưới mọi hình thức.

l) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác hoặc giả mạo trong công tác để trục lợi hoặc khi thi hành nhiệm vụ, công vụ, sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước, của tập thể nhằm trục lợi.

m) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao để bao che, tiếp tay cho người có hành vi vi phạm pháp luật; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, ân giảm vì vụ lợi.

Điều 17. Vi phạm các quy định trong đầu tư, xây dựng

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định trong quản lý đầu tư, xây dựng.

b) Xây dựng công trình, nhà ở nằm trong khu vực cấm xây dựng; xây dựng công trình, nhà ở sai quy hoạch, vi phạm chỉ giới, cốt xây dựng; xây dựng không có hoặc không đúng với giấy phép xây dựng được cấp; xây dựng công trình, nhà ở không tuân theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, không đúng với mục đích sử dụng đất.

c) Vi phạm các quy định về an toàn tính mạng về người, tài sản và vệ sinh môi trường trong đầu tư, xây dựng.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Gây khó khăn, phiền hà, cản trở hoạt động đầu tư; ký duyệt dự án đầu tư, xây dựng sai quy định; lợi dụng việc đầu tư nước ngoài để giao đất, cho thuê đất, cấp giấy phép đầu tư trái thẩm quyền.

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về xây dựng; dung túng, bao che cho hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng.

c) Làm trái quy định trong việc thẩm định, phê duyệt, đấu thầu dự án; trong quản lý, cấp phát, thanh toán vốn; trong việc cho chủ trương, quyết định đầu tư dẫn đến dự án đầu tư không hiệu quả.

d) Quản lý, xây dựng công trình không bảo đảm chất lượng gây đổ, sập, hỏa hoạn, tai nạn hoặc lãng phí.

đ) Lợi dụng việc kiến nghị trong đấu thầu để cản trở quá trình đấu thầu và ký kết hợp đồng, cản trở các nhà thầu khác tham gia đấu thầu.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Cấu kết, thông đồng giữa bên mời thầu với nhà thầu, giữa cơ quan quản lý nhà nước với bên mời thầu và với nhà thầu để thay đổi hồ sơ dự thầu, thông đồng với cơ quan thẩm định, cơ quan tư vấn, giám sát, thanh tra gây thiệt hại lợi ích của tập thể, lợi ích của quốc gia.

b) Đồng ý cho chia dự án thành các gói thầu trái với quy định; tiết lộ những tài liệu, thông tin về đấu thầu; dàn xếp thông thầu, gây thiệt hại cho nhà nước, doanh nghiệp.

c) Dùng ảnh hưởng cá nhân tác động, can thiệp hoặc cố ý báo cáo sai hoặc không trung thực về các thông tin làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu, ký kết, thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho nhà nước, doanh nghiệp.

Debug: ADS tracking link http://vietnamnet.vn/thoi-su-chinh-tri

Điều 18. Vi phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Làm trái một trong những quy định về quản lý, sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước; về thu lãi, trả lãi, thu lệ phí, hoa hồng, tiền phạt.

b) Thiếu trách nhiệm trong kiểm tra hoặc không tiến hành kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay theo quy định.

c) Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, tái bảo lãnh, bảo lãnh mở thư tín dụng trả chậm không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định; không trích lập, hoặc trích lập không đủ mức ký quỹ bảo lãnh theo đúng quy định.

d) Không lưu giữ đủ hồ sơ tín dụng, cho gia hạn nợ quá thời gian hoặc quá số lần theo quy định; không thực hiện đủ hoặc không đúng các điều kiện cho vay.

đ) Hủy hoại đồng tiền; từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Huy động vốn, cho vay vốn không đúng quy định; thực hiện sai phương án, trình tự, thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt gây thiệt hại về tài chính, tài sản của Nhà nước.

b) Cho vay ưu đãi sai đối tượng; vi phạm quy định mức vốn cho vay ưu đãi; phát hiện bên vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích nhưng không chấm dứt việc cho vay hoặc không thực hiện các biện pháp thích hợp để thu hồi số tiền đã cho vay.

c) Hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần, chuyển nhượng cổ phần, trích lập các quỹ trái quy định; sử dụng các quỹ vào việc trả lãi cổ phần hoặc chuyển ra nước ngoài không đúng quy định.

d) Lập quỹ trái phép; báo cáo tài chính không trung thực, để ngoài sổ sách kế toán tài sản của đơn vị kế toán; hủy bỏ hoặc làm hư hỏng tài liệu, chứng từ kế toán trước thời hạn lưu giữ theo quy định.

đ) Thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ quy định về nghĩa vụ của các bên thế chấp và bên nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn theo quy định.

e) Vi phạm quy định về tỉ giá mua, bán ngoại tệ và chi trả kiều hối. Mua, bán và thu ngoại tệ mà không có giấy phép. Cho vay, thanh toán ngoại tệ không đúng quy định.

g) Vi phạm các quy định về sản xuất, vận chuyển, mua, bán, kinh doanh vàng.

h) Thực hiện không đúng mức tiền cho vay trên giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; nhận thế chấp, cầm cố tài sản để cho vay không đúng quy định; trốn tránh trách nhiệm trả nợ.

i) Thiếu trách nhiệm trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng gây hậu quả nghiêm trọng.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán hoặc cố ý thỏa thuận, ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.

b) Làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả, vàng giả.

c) Thực hiện không đúng phạm vi, đối tượng thế chấp, cầm cố và bảo lãnh vay vốn; thực hiện không đúng, hoặc không đầy đủ các quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn ngân hàng.

d) Vi phạm quy định về cấp tín dụng cho cổ đông lớn, cổ đông sáng lập; cho vay trên thị trường liên ngân hàng, mua cổ phiếu để thôn tính ngân hàng khác.

đ) Vì lợi ích cục bộ mà có hành vi thôn tính các ngân hàng thương mại hoặc cấu kết lập ra các doanh nghiệp để cho vay từ chính các ngân hàng do mình nắm giữ hoặc có cổ phần chi phối.

e) Chỉ đạo hoặc thông đồng với cấp dưới lập hồ sơ, chứng từ khống để chiếm đoạt tiền, tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Điều 19. Vi phạm trong quản lý, sử dụng các loại quỹ hỗ trợ, tài trợ, nhân đạo, từ thiện

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Lợi dụng việc lập quỹ để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cộng đồng.

b) Lợi dụng việc lập quỹ để xâm hại đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc.

c) Thực hiện không đúng quy định về lưu trữ và công khai hồ sơ, các chứng từ, tài liệu về tài sản, tài chính của quỹ; nghị quyết, quy chế, điều lệ, biên bản về hoạt động của quỹ theo quy định.

d) Tiếp nhận, sử dụng tiền, tài sản tài trợ của quỹ không đúng mục đích, nội dung, đối tượng và theo yêu cầu của nhà tài trợ.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Vi phạm hoạt động vận động, quyên góp, tài trợ; tiếp nhận tiền, tài sản do các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tài trợ không theo đúng tôn chỉ, mục đích của quỹ và quy định của pháp luật.

b) Làm giả, tẩy xóa, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn giấy phép thành lập quỹ dưới mọi hình thức.

c) Hoạt động sai mục đích, không đúng điều lệ của quỹ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

d) Vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính, công khai tài chính của quỹ.

đ) Sử dụng tiền quỹ quyên góp để cho vay, gửi tiết kiệm lấy lãi sử dụng trái quy định.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tổ chức quản lý và điều hành quỹ sai quy định của pháp luật; tổ chức vận động tài trợ trái quy định.

b) Lợi dụng việc lập quỹ để hoạt động bất hợp pháp hoặc gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, đoàn kết dân tộc hoặc để tài trợ khủng bố, hoạt động chống phá khác.

Điều 20. Vi phạm trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Thiếu trách nhiệm, thực hiện không đầy đủ, không đúng, không kịp thời các quy định về chính sách an sinh xã hội.

b) Vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công.

c) Vi phạm các quy định về việc vận động, tiếp nhận, phân phối các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân để hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

d) Xác nhận không đúng để bản thân hoặc người khác hưởng các chính sách an sinh xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Vi phạm trong thực hiện các chương trình xã hội, chính sách bảo hiểm.

b) Khai khống để hưởng chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công; hoặc tác động để bản thân và bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột được hưởng chính sách an sinh xã hội, cứu trợ, cứu nạn không đúng quy định.

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chi sai mục đích, đối tượng, định mức, tiêu chuẩn chính sách an sinh xã hội.

d) Thiếu trách nhiệm trong việc phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

Điều 21. Vi phạm quy định về đất đai, nhà ở

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Thực hiện không đúng, không đầy đủ quy định trong quản lý và sử dụng nhà ở; vi phạm các quy định của pháp luật về quy hoạch, xây dựng công trình và quản lý nhà ở.

b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ tài chính, các thủ tục, quy định, quyết định của Nhà nước về chuyển quyền sử dụng đất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

c) Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Làm trái quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, thay đổi mục đích và quyền sử dụng đất; thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

b) Cản trở, chống lại hoặc kích động, xúi giục, ép buộc người khác chống lại quyết định đúng pháp luật của cấp có thẩm quyền về thu hồi đất, giao đất, thực hiện các dự án quốc gia và về giải phóng mặt bằng.

c) Vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho tổ chức, cá nhân, phải bồi thường mà không bồi thường theo quy định.

d) Có trách nhiệm nhưng không phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thuộc phạm vi theo dõi hoặc phụ trách.

đ) Làm trái quy định trong việc quản lý nhà, trụ sở làm việc của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, doanh trại đơn vị quân đội, công an hoặc trong sở hữu, xây dựng, sử dụng, sửa chữa nhà ở của tổ chức được giao quản lý.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, hủy hoại đất.

b) Giả mạo, gian lận giấy tờ, làm sai lệch hồ sơ trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đối với nhà ở.

c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cấp phép khai thác tài nguyên, khoáng sản trái quy định của pháp luật.

d) Vì lợi ích cục bộ mà ban hành các văn bản hoặc chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, thu hồi đất trái pháp luật.

Điều 22. Vi phạm về quản lý, cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Kê khai không đúng và sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

b) Công chứng, chứng thực, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trái quy định của pháp luật.

c) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm cấp phát, chứng nhận bản sao hoặc xác nhận tính hợp pháp của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận đã cấp.

d) Không lập hoặc lập không đầy đủ hồ sơ theo quy định làm căn cứ để cấp phát, quản lý văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận.

đ) Có trách nhiệm quản lý phôi văn bằng, chứng chỉ, nhưng thiếu trách nhiệm để người khác lợi dụng làm văn bằng, chứng chỉ giả.

e) Không chỉ đạo kiểm tra, xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm trong việc cấp, xác nhận, công chứng hoặc mua văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp phápthuộc thẩm quyền của mình.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp để lập hồ sơ dự thi tuyển, xét tuyển, học tập nâng cao trình độ văn hóa, lý luận, nghiệp vụ, thi chuyển ngạch, nâng bậc để được đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử, phong tặng hoặc công nhận các danh hiệu của Đảng và Nhà nước.

b) Thiếu trách nhiệm làm mất, hỏng nội dung hồ sơ mà mình có trách nhiệm quản lý để cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận.

c) Can thiệp đến cá nhân, tổ chức để bản thân hoặc người khác được xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp, không đúng đối tượng.

d) Ký, cấp văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp cho người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện; ra quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trái phép.

đ) Làm giả hoặc cố ý sửa chữa, bổ sung, xác nhận sai sự thật làm sai lệch hồ sơ để cấp có thẩm quyền cấp phát văn bằng, chứng chỉ cho người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn; sửa chữa, bổ sung làm sai lệch các nội dung trong văn bằng, chứng chỉ phục vụ cho hành vi trái pháp luật.

e) Cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ của mình để sử dụng trong việc tuyển dụng, đi học, thi nâng ngạch, bổ nhiệm, bầu cử hoặc các mục đích trái quy định.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Làm công tác tuyển dụng, xét tuyển, đào tạo nhưng cố ý để người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp được dự thi tuyển, xét tuyển đi học, thi nâng ngạch.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao che cho cán bộ, công chức, đảng viên thuộc quyền quản lý sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

c) Trực tiếp tham gia hoặc tiếp tay cho việc sản xuất, tiêu thụ hoặc môi giới tiêu thụ văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

Điều 23. Vi phạm quy định về lập hội và hoạt động của hội; biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Tham gia hoặc xúi giục, dụ dỗ người khác tham gia các hội trái quy định của pháp luật.

b) Tham gia hoặc xúi giục, dụ dỗ, ép buộc người khác tham gia các cuộc họp, hội thảo, mít tinh trái pháp luật hoặc không được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước cho phép hoặc được phép nhưng lợi dụng để chống Đảng, Nhà nước.

c) Biết mà không báo cáo, tố cáo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật về trật tự công cộng hoặc vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân.

d) Không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao; có trách nhiệm nhưng không có biện pháp để ngăn chặn, loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng.

đ) Tổ chức, tham gia tập trung đông người trái quy định của pháp luật ở nơi đang diễn ra các hội nghị quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội hoặc nơi công cộng khác.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Chủ trì tổ chức hoặc chủ động vận động, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác tham gia các hội trái quy định.

b) Có hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cuộc sống bình thường của nhân dân hoặc trái với thuần phong mỹ tục, nếp sống văn minh nơi công cộng.

c) Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để tổ chức, tham gia biểu tình, tập trung đông người, gây mất an ninh, trật tự.

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để dung túng, bao che, tiếp tay dẫn đến xử lý không nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự công cộng.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Chủ trì, khởi xướng hoặc chủ động tham gia lập các hội trái quy định của pháp luật; tổ chức hoạt động của hội trái tôn chỉ, mục đích gây ảnh hưởng xấu trong xã hội.

b) Khởi xướng tôn chỉ, mục đích, nội dung, hình thức; chủ trì, chuẩn bị kế hoạch, phân công, tập hợp lực lượng, tham gia bàn bạc, tuyên truyền, vận động, lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tham gia biểu tình, tập trung đông người trái quy định của Đảng và Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự.

c) Hỗ trợ tham gia biểu tình không được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép, nhưng lại lợi dụng hoặc tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng để chống Đảng, chống Nhà nước.

d) Có hành vi, việc làm gây cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 24. Vi phạm quy định về hôn nhân và gia đình

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Cản trở kết hôn, ly hôn trái pháp luật hoặc để con tảo hôn.

b) Trốn tránh nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con, lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên.

c) Cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom con sau khi ly hôn (trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án).

d) Trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ giám hộ sau khi đã làm thủ tục công nhận giám hộ tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.

đ) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giả mạo giấy tờ để đăng ký nuôi con nuôi.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Vi phạm trong việc sửa chữa, làm sai lệch nội dung hoặc giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hôn.

b) Thiếu trách nhiệm, xác nhận không đúng tình trạng hôn nhân dẫn đến việc đăng ký kết hôn bất hợp pháp.

c) Cố ý khai gian dối hoặc có hành vi lừa dối khi đăng ký kết hôn hoặc cho, nhận nuôi con nuôi.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

b) Ép buộc vợ (hoặc chồng), con làm những việc trái đạo lý, trái pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

c) Từ chối thực hiện, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cha mẹ, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Điều 25. Vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Có con kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo trung thực bằng văn bản với chi bộ, thường trực cấp ủy quản lý mình về lai lịch, thái độ chính trị của con dấu (hoặc con rể) và cha, mẹ ruột của họ.

b) Biết nhưng để con kết hôn với người nước ngoài vi phạm quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Có vợ (chồng) là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng không báo cáo với cấp ủy trực tiếp quản lý và cấp ủy nơi mình sinh hoạt.

b) Bản thân biết mà không có biện pháp ngăn chặn việc con kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hành vi chống Đảng và Nhà nước.

c) Có hành vi ép con kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm vụ lợi.

d) Môi giới kết hôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài trái quy định của pháp luật Việt Nam.

3- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Cố tình kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà người đó không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

b) Kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà biết người đó có hoạt động phạm tội nghiêm trọng, có thái độ hoặc hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

c) Kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo bằng văn bản với chi bộ về lai lịch của người đó, hoặc đã báo cáo nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền không đồng ý nhưng vẫn cố tình thực hiện.

d) Cố tình che giấu tổ chức đảng; ép con kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trái với quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Điều 26. Vi phạm quy định về quan hệ với tổ chức, cá nhân người nước ngoài

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Tự mình hoặc có hành vi để bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột đi du lịch, tham quan, học tập, chữa bệnh ở trong nước, ngoài nước bằng nguồn tài trợ của tổ chức, cá nhân nước ngoài khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

b) Nhận làm việc trong các cơ quan, tổ chức hoặc với cá nhân người nước ngoài mà không báo cáo với tổ chức đảng có thẩm quyền.

c) Có mối quan hệ mật thiết với người nước ngoài, nhưng không báo cáo theo quy định.

d) Tự ý ra nước ngoài mà không báo cáo hoặc chưa được sự đồng ý của cấp ủy trực tiếp quản lý và cấp ủy nơi sinh hoạt.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Có tiền, kim loại quý, đá quý, các giấy tờ có giá trị như tiền đang gửi ở ngân hàng nước ngoài trái quy định của Nhà nước.

b) Chuyển tiền, tài sản cho người nước ngoài ra nước ngoài trái quy định.

c) Làm tư vấn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ và tổ chức, cá nhân nước ngoài gây hại đến lợi ích quốc gia.

d) Liên doanh, liên kết, đầu tư vốn dưới mọi hình thức với cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo hoặc khi chưa được sự đồng ý của tổ chức đảng có thẩm quyền.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hành vi chống Đảng, Nhà nước, làm phương hại đến lợi ích quốc gia.

b) Biết nhưng vẫn nhận tài trợ của cá nhân, tổ chức có hoạt động chống Đảng và Nhà nước.

c) Đồng tình, bao che, tiếp tay cho hoạt động của người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài chống Đảng và Nhà nước.

d) Cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hiện vật thuộc phạm vi bí mật của Đảng và Nhà nước cho nước ngoài, cho cá nhân và tổ chức chính trị thù địch, phản động dưới mọi hình thức.

đ) Hoạt động trong các đảng phái, tổ chức chính trị thù địch, phản động nước ngoài.

Điều 27. Vi phạm quy định về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ ba (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tham gia các hoạt động xét nghiệm, chuẩn đoán để xác định giới tính thai nhi trái quy định.

b) Khai báo hoặc xin xác nhận, giám định không trung thực về tình trạng sức khỏe của vợ (chồng), con để thực hiện không đúng quy định hoặc để trốn tránh không bị xử lý do vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ tư (trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ).

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ năm trở lên hoặc vi phạm trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

Gian dối trong việc cho con đẻ hoặc nhận nuôi con nuôi mà thực chất là con đẻ nhằm cố tình sinh thêm con ngoài quy định.

Điều 28. Vi phạm quy định về đạo đức nghề nghiệp trong ngành Y tế

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Vi phạm các quy chế, quy định về chuyên môn trong ngành Y tế.

b) Không trung thực trong kê khai và thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

c) Phân biệt đối xử với người bệnh, có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà, sách nhiễu cho người bệnh; từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh.

d) Giao cho người bệnh thuốc kém chất lượng, hết hạn sử dụng, kê đơn thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

đ) Kê đơn và chỉ định người bệnh mua thuốc tại cửa hàng thuốc, gợi ý chuyển người bệnh tới cơsở khám, chữa bệnh có liên quan đến mình để nhân hoa hồng trái pháp luật.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

b) Không hết lòng cứu chữa người bệnh, để xảy ra những hậu quả nghiêm trọng đối với người bệnh.

c) Kê đơn thuốc cho người bệnh không phù hợp với chẩn đoán và không có biện pháp bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

d) Sản xuất, kinh doanh, cấp phép hoặc cho phép nhập khẩu, cung cấp thiết bị y tế, thuốc tân dược không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, quá hạn sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam.

đ) Bản thân có thiếu sót, khuyết điểm không tự giác nhận trách nhiệm về mình, đổ lỗi cho người khác.

e) Thiếu trách nhiệm trong việc khám, chữa bệnh; yêu cầu người bệnh đến khám và điều trị tại cơ sở y tế tư nhân do mình lập ra hoặc cơ sở y tế do mình tham gia thành lập nhằm trục lợi.

g) Vi phạm các quy định về chuyên môn, kỹ thuật trong khám, chữa bệnh, gây hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tự ý bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, không theo dõi và xử trí kịp thời đối với các diễn biến của người bệnh dẫn đến tử vong.

b) Thiếu trách nhiệm, không khẩn trương sơ cứu, cấp cứu người bệnh, chuẩn đoán, xử lý kịp thời đối với người bệnh dẫn đến người bệnh bị tử vong.

c) Đặt điều kiện về vật chất hoặc vòi vĩnh nhận tiền, quà có giá trị lớn của người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân trong quá trình khám, chữa bệnh.

d) Tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm trốn tránh trách nhiệm; lợi dụng việc khám, chữa bệnh để trục lợi bảo hiểm y tế.

Chương IV

VI PHẠM VỀ CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM, ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG, TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO

Điều 29. Vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy chế làm việc, quy chế dân chủ ở cơ sở.

b) Không phổ biến kịp thời, chỉ đạo, tổ chức thực hiện không đúng hoặc không chỉ đạo, tổ chức thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình.

c) Thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đế cấp dưới thực hiện sai hoặc quyết định sai.

d) Giao nhiệm vụ cho cấp dưới không rõ, không đúng quyền hạn dẫn đến cấp dưới vi phạm.

đ) Cấp dưới đã báo cáo, xin chỉ thị những vấn đề thuộc thẩm quyền, nhưng không kịp thời chỉ đạo hoặc giải quyết để tình trạng đơn, thư khiếu kiện vượt cấp phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đơn vị.

e) Có trách nhiệm nhưng né tránh, không kiểm tra, xem xét, xử lý khi phát hiện đảng viên thuộc diện quản lý vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Thiếu kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong phạm vi trực tiếp lãnh đạo, quản lý hoặc được phân công phụ trách.

b) Chỉ đạo thực hiện trái quy định của Đảng và Nhà nước hoặc không rõ, không nhất quán, gây thất thoát, lãng phí ngân sách, tài sản của Đảng, Nhà nước; tham mưu, đề xuất trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản trái quy định của Đảng và Nhà nước.

c) Thiếu trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý để đơn vị xảy ra mất đoàn kết nghiêm trọng, vi phạm pháp luật, quy trình, quy định công tác, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác.

d) Người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức báo cáo cấp có thẩm quyền sai sự thật; không giải quyết kịp thời những tồn tại ở địa phương, đơn vị, ngành, lĩnh vực mình phụ trách dẫn đến có nhiều sai phạm nghiêm trọng, mất đoàn kết nội bộ hoặc khiếu nại, tố cáo đông người.

đ) Bố trí bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và làm những công việc trong cơ quan, đơn vị, tổ chức do mình trực tiếp phụ trách trái quy định của Đảng và Nhà nước.

e) Để cấp phó, người đại diện hoặc người được mình ủy quyền làm trái quy định của Đảng và Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, thực thi công vụ.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Bao che, tiếp tay cho hành vi vi phạm nghiêm trọng của cấp dưới, dẫn đến người vi phạm đến mức phải xử lý về hình sự.

b) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương cố tình báo cáo sai sự thật, che giấu tội phạm, hành vi vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc che giấu tình trạng mất đoàn kết nội bộ kéo dài ở nơi mình trực tiếp phụ trách.

c) Trực tiếp gây ra hoặc do quan liêu, thiếu trách nhiệm để cơ quan, tổ chức, địa phương do mình trực tiếp phụ trách mất đoàn kết, vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước.

d) Người đứng đầu tổ chức kinh tế của Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định dẫn đến đơn vị sản xuất, kinh doanh thua lỗ kéo dài, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tiền, tài sản của Nhà nước, của tập thể và cá nhân người lao động.

Điều 30. Vi phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Làm những việc tuy pháp luật không cấm nhưng ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức, cơ quan, đơn vị, của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên; vi phạm nội quy, quy chế, kỷ luật nội bộ cơ quan.

b) Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao trong thực thi nhiệm vụ, công vụ hoặc trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ được giao hoặc bỏ vị trí công tác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

c) Thực hiện không đúng, không đầy đủ so với quy định về báo cáo kết quả minh bạch tài sản, thu nhập.

d) Thiếu trách nhiệm dẫn đến thực thi nhiệm vụ, công vụ không đúng quy trình, thủ tục, thời hạn quy định gây hậu quả cho cá nhân, tổ chức.

đ) Không báo cáo cấp có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong tổ chức, đơn vị.

e) Yêu cầu tổ chức, công dân thực hiện các thủ tục hành chính không đúng quy định.

2- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Được giao quản lý nhưng có hành vi chiếm giữ, cho thuê, cho mượn tài sản, cho vay quỹ của Nhà nước, cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý, sử dụng trái quy định.

b) Lạm quyền, giải quyết công việc không đúng thẩm quyền hoặc cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc.

c) Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu, tài sản, phương tiện của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

d) Quản lý và sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân để vụ lợi.

đ) Trốn tránh trách nhiệm về những hậu quả do mình gây ra trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn.

e) Tạo vây cánh, bè phái, nhóm lợi ích, chia rẽ, lôi kéo, mất đoàn kết với đồng nghiệp trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.

g) Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn, sử dụng thông tin, tài liệu, phương tiện liên quan đến thực thi công vụ để vụ lợi hoặc làm tổn hại nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của cơ quan, đơn vị.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, chính sách, chế độ sai trái vì lợi ích nhóm hoặc lợi ích cục bộ.

b) Lợi dụng danh nghĩa, phương tiện cơ quan, trụ sở làm việc, cơ sở sản xuất kinh doanh, tổ chức mình công tác hoặc phụ trách để bao che, tiếp tay cho hành vi buôn lậu, sản xuất hàng giả, buôn bán hàng cấm hoặc hoạt động có tính chất tệ nạn xã hội.

Điều 31. Vi phạm về tệ nạn xã hội

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Biết nhưng để bố, mẹ, vợ (chồng), con cùng sống trong gia đình tham gia đánh bạc, cho vay nặng lãi dưới mọi hình thức mà không có biện pháp ngăn chặn hoặc không báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

b) Biết nhưng để bố, mẹ, vợ (chồng), con cùng sống trong gia đình sử dụng hoặc tàng trữ, lưu hành, mua bán, vận chuyển văn hóa phẩm có nội dung cấm, độc hại mà không báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Tham gia đánh bạc hoặc sử dụng các chất ma túy hoặc tham gia các tệ nạn xã hội khác.

b) Người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội mà dung túng, bao che, tiếp tay hoặc không kịp thời xử lý người vi phạm các hành vi mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy, đánh bạc, cho vay nặng lãi hoặc tàng trữ, lưu hành, mua bán, vận chuyển văn hóa phẩm có nội dung cấm, độc hại.

c) Tàng trữ, lưu hành, mua bán, vận chuyển văn hóa phẩm có nội dung cấm, độc hại.

d) Dung túng, chứa chấp hoặc do thiếu trách nhiệm để hành vi mại dâm, ma túy, đánh bạc và tệ nạn xã hội khác xảy ra trong đơn vị, cơ quan, tổ chức, địa bàn do mình trực tiếp quản lý, phụ trách.

đ) Biết nhưng để bố, mẹ, vợ (chồng), con cùng sống trong gia đình sử dụng, sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tổ chức sản xuất, bán hoặc lưu hành, tán phát các văn hóa phẩm có nội dung cấm, độc hại.

b) Sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy.

c) Cho vay nặng lãi, sử dụng các hành vi trái pháp luật dưới mọi hình thức để đòi nợ.

d) Tổ chức chứa chấp và môi giới mại dâm; tổ chức hoạt động mại dâm; bảo kê mại dâm; lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm.

đ) Chủ mưu, khởi xướng, tổ chức đánh bạc dưới mọi hình thức hoặc đã bị xử lý về hành vi đánh bạc nhưng tiếp tục tái phạm.

Điều 32. Vi phạm về bạo lực gia đình

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh kích động bạo lực gia đình.

b) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em ruột với nhau.

c) Ngăn cản việc phát hiện, khai báo, ngăn chặn và xử lý hành vi bạo lực gia đình.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Chiếm đoạt, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của gia đình.

b) Cưỡng ép thành viên trong gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên trong gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.

c) Có hành vi buộc thành viên trong gia đình ra khỏi chỗ ở trái pháp luật.

d) Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.

đ) Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Trả thù, trù dập người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.

b) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên trong gia đình hoặc người có công nuôi dưỡng mình.

Điều 33. Vi phạm về đạo đức, nếp sống văn minh

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Tổ chức việc cưới, việc tang, các ngày lễ, tết, sinh nhật, mừng thọ, kỷ niệm ngày cưới, mừng nhà mới, lên chức, chuyển công tác xa hoa, lãng phí hoặc trái quy định.

b) Vi phạm các quy định về cấm uống rượu, bia làm ảnh hưởng đến tư cách đảng viên.

c) Có hành vi quấy rối tình dục dưới mọi hình thức.

d) Quậy phá, gây go, đánh nhau hoặc có hành vi thiếu văn hóa làm mất an ninh, trật tự công cộng.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Tổ chức việc cưới, việc tang với quy mô lớn, kéo dài nhiều ngày; tổ chức giỗ, sinh nhật, mừng thọ, lên chức, mừng nhà mới với quy mô lớn gây phản cảm hoặc gây dư luận bức xúc trong nhân dân, bị xã hội lên án.

b) Thiếu trách nhiệm hoặc vì động cơ cá nhân mà dung túng hoặc kích động người khác vi phạm pháp luật.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Là lãnh đạo, chỉ huy nhưng có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự hoặc dùng nhục hình đối với cán bộ, chiến sĩ, nhân viên dưới quyền.

b) Là cấp dưới nhưng có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung cán bộ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy và đồng nghiệp.

Điều 34. Vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo

1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

a) Biết mà không có biện pháp giáo dục, ngăn chặn để vợ (chồng) hoặc con cùng sống chung trong gia đình tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp, truyền đạo trái phép.

b) Mê tín, dị đoan: Tổ chức lễ cầu lên chức; xem bói, xóc thẻ, nhờ thầy yểm bùa trừ tà ma và những việc mê tín, dị đoan khác.

c) Có hành vi cưỡng ép, ngăn cản hoạt động tự do tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của người khác.

2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

a) Tự ý theo tôn giáo hoặc nhận giữ các chức sắc của các tổ chức tôn giáo mà không báo cáo, xin ý kiến chi bộ và tổ chức đảng quản lý trực tiếp hoặc đã báo cáo nhưng chưa được các tổ chức đảng có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản.

b) Phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

c) Tổ chức, vận động, dụ dỗ, kích động, lôi kéo, đe dọa, ép buộc người khác tham gia tôn giáo bất hợp pháp.

d) Ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân tác động xấu đến đoàn kết dân tộc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

đ) Bao che, tiếp tay cho các hoạt động mê tín, dị đoan trong các lễ hội; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức để trục lợi.

3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Tổ chức kích động nhằm chia rẽ đoàn kết giữa các tôn giáo trong nước và ngoài nước.

b) Hoạt động mê tín, dị đoan đến mức cuồng tín, mù quáng; hành nghề đồng cốt, thầy cúng, thầy bói, thầy địa lý nhằm trục lợi hoặc vì mục đích khác.

c) Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái chính sách, pháp luật của Nhà nước.

d) Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của tổ chức, cá nhân; gây cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.

đ) Chủ trì, tham gia hoặc vận động, ủng hộ hoặc bao che, tiếp tay cho cá nhân, tổ chức lập mới và xây mới đền, chùa, miếu thờ, điện thờ, cơ sở thờ tự của các tôn giáo khi chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện Quy định này.

Điều 36. Quy định này thay thế Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị khóa XI về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm và có hiệu lực từ ngày ký, được phổ biến đến chi bộ.

Điều 37. Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định này; chủ trì, phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương Đảng và tổ chức đảng có liên quan đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quy định; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo để Bộ Chính trị xem xét, quyết định.

Thay mặt Bộ Chính trị

Trần Quốc Vượng (đã ký)

Nhà nghiên cứu văn hóa tư tưởng Nguyễn Trần Bạt:

Chúng ta phải nghiên cứu xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về độc lập dân tộc

13:58 28/11/2017

Năm 2012, tôi tình cờ đọc cuốn "Cội nguồn cảm hứng" của nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt, và bị nó hút đi, ngay từ những trang viết đầu tiên. 

ĐOÀN VĂN TOẠI LÀ AI ?
Nếu không đọc lịch sử thì tuổi trẻ khó hình dung được khi nghe tới tên gọi Đoàn Văn Toại.
Ông Toại sinh 1945 tại Vĩnh Long, từng học Đại Học Văn Khoa tại SG. Vào thời điểm chiến tranh trước năm 1975, Toại gia nhập lực lượng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN (Việt Cộng).
Ông được bổ nhiệm công tác trà trộn vào giới sinh viên Miền Nam để quấy phá, gây xáo trộn thời cuộc. Đầu năm 1969, trong cuộc họp Đảng bộ sinh viên tại Đại Học Vạn Hạnh, ông được bầu làm phó chủ tịch hội sinh viên Sài Gòn niên khóa 1969-1970.
Đầu năm 1971, ông mang lon cấp tá thuộc MTDTGPMN và được cử sang Mỹ để tuyên truyền cho giới sinh viên Mỹ trong phong trào chống chiến tranh VN tại đại học Berkeley và Stanford.
Sau năm 1975, ông được Việt Cộng đưa lên làm phó Bí Thư thuộc Ban Kinh tế - Tài chính Trung ương Cục miền Nam, tuy nhiên sau đó, ông nhanh chóng bị VC bắt giam tù vì nghi ngờ làm việc cho CIA, Mỹ. Ông bị VC giam 28 ngày và được thả ra.
Năm 1978 là lúc cao điểm mà hăng triệu đồng bào liều mình vượt biển, vượt biên tìm tự do và đúng vào thời điểm diễn ra chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc thì Đoàn Văn Toại theo đoàn tàu vượt biển tìm tự do. Ông tới Paris vào tháng 5 năm 1978.
Năm 1980, từ Paris ông sang Mỹ theo diện bão lãnh và sống tại Bắc California. Tháng 6 năm 1986, ông phát hành cuốn sách The Vietnamese Gulag nói về 28 ngày ông bị Việt Cộng giam tù và đối xử tàn bạo.
Năm 1989, Đoàn Văn Toại trở thành nỗi tiếng về các loạt bài phóng sự tại Việt Nam. Ông sáng lập một nhóm vận động dân chủ có tên gọi là Institute for Democracy in Vietnam (Học Viện cho Dân Chủ ở Việt Nam).
Cùng năm 1989, ông Đoàn Văn Toại bị một sát thủ bắn nhiều phát đạn ngay tại nhà riêng của ông ở Fresno, Ca nhưng thoát chết. Một viên đạn làm vỡ răng và xuyên qua dưới tai ông.
Đoàn Văn Toại vừa qua đời ngày hôm nay ....
Nguyễn Thùy Trang

KHI NHỮNG NGƯỜI CẦM BÚT ĐAO TO BÚA LỚN  

- LÃO MÓC -        
 

“Ba ngày sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn phản tướng bắn, đâm chết, trên 2 tờ nhật báo Ngôn Luận, Đồng Nai đăng bài Hiệu Triệu dưới đây:
 
HIỆU TRIỆU
 
“Mang danh những người cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ và giải phóng con người, vậy mà trong thời gian qua, vì cơm áo, vì khiếp nhược đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội Sự Thật, phản bội Dân Tộc, cam tâm làm gia nô cho lũ họ Ngô. Dù chúng ta có viện bất cứ lý do nào để bào chữa, chúng ta cũng không thể chối cãi tội lỗi của chúng ta với đồng bào, với lịch sử. Quân đội đã đứng lên, làm nhiệm vụ của mình. Cơ hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút “phi cầm, phi thú”, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người, đã tới. Nếu sự tự thiêu của bảy tu sĩ - một hy sinh bi hùng nhất trong lịch sử tôn giáo và nhân loại - chưa làm chúng ta giác ngộ, thì quả chúng ta đã hết là người, không xứng đáng gặp gỡ vận hội của chúng ta nữa.
 
Cuộc cách mạng chỉ mới bắt đầu. Xương máu của quân đội, của đồng bào không thể bị bọn đầu cơ chính trị lợi dụng một lần nữa.  
Hơn lúc nào hết, chúng ta phải “gạn đục, khơi trong” đem hết tâm hồn, năng lực ra phụng sự cho chính nghĩa.  
Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các bạn nghệ sĩ, bằng máu, bằng nước mắt, mồ hôi, đem ngòi bút viết lại thiên lịch sử của dân tộc, mà trong 9 năm qua, bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố.”
 
Đại diện cho các nhà văn, nhà báo chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ
 
          CHU TỬ - HIẾU CHÂN - TỪ CHUNG”
 
 
 
Hiệu triệu này đăng trên Tạp chí Bách Khoa, số 165 ngày 15-11-1963.
 
Theo bài viết có tựa “Đao To, Búa Lớn”, nhà văn Hoàng Hải Thủy cho biết:
 
“Hai năm sau ngày đưa ra lời Hiệu Triệu đó cùng trong một ngày ông Chu Tử bị kẻ sát nhân rình trước cửa nhà ông, buổi sáng khi ông vào xe ô tô để đến tòa soạn nhật báo Sống, bắn ông nhiều phát đạn, nhưng ông Chu Tử không chết. Buổi trưa cùng ngày kẻ sát nhân chờ ký giả Từ Chung ở cửa nhà ông khi ông từ tòa soạn báo Chính Luận về, bắn ông khi ông ra khỏi xe ô tô. Ký giả Từ Chung ngã xuống chết ngay. Màn bí ẩn bao trùm lên hai vụ bắn này: không biết thế lực nào là thủ phạm”.
 
          Sau đó, nhà văn Hoàng Hải Thủy còn cảm khái viết như sau:
 
          “Chưa bao giờ hai tiếng “Cách Mạng” bị lạm dụng, bị bôi bẩn như trong thời bọn Phản Tướng Việt Nam Cộng Hoà cầm quyền, và thời bọn Bắc Cộng vào chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.” 
 
*
 
          Trước đó 2 năm, cũng đã có một nhà văn đọc trước linh cữu của nhà văn Nhất Linh (người đã tự tử để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm) trước giờ hạ huyệt những lời vĩnh biệt vô cùng “đao to, búa lớn”:
 
“… Chúng tôi xin nguyện trước anh hồn của văn hào là chúng tôi sẽ nhất quyết theo đuổi con đường cao đẹp mà văn hào đã vạch ra.  
Đó là sự hoàn thành sứ mạng cao quý của các nhà văn.  
Đó là sự chống đối mãi mãi bạo quyền và bạo lực.  
Đó là sự đòi hỏi đến kỳ cùng quyền tự do được sống làm người của toàn thể dân tộc, như ý muốn của văn hào trước khi nhắm mắt…”.
 
Người đã đọc những lời vĩnh biệt vô cùng đao to, búa lớn này là nhà văn Nhật Tiến.  
Nhà văn Nhật Tiến đã ở lại Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 để biết “mặt thật” của cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa”.  
Nhà văn Nhật Tiến đã vượt biển để kinh qua cái cảm giác:
 
          “Ta thương ta kiếp thuyền nhân  
          Một lần vượt biển muôn phần đớn đau!” (thơ NTN 
 
          Có những người mà lời nói không đi đôi với việc làm. Những người này nói những lời rất là đao to, búa lớn; nhưng lại chuyên đi làm những chuyện… ruồi bu, kiến đậu! Nhật Tiến là một trong số những người này.
 
          Nhà văn Nhật Tiến đã đem sách “Trăm hoa vẫn nở trên quê hương” về nước xin xỏ hoà hợp hòa giải với VC, bị chúng nó chê bai “hôi mùi thực dân, đế quốc, không xứng đáng đồng hành cùng chúng nó!” Ra hải ngoại lại đi xum xoe bợ đỡ tên đạo diễn VC Trần Văn Thủy, kẻ đã tiếp tay với Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc HiếnKevin Bowen, Nguyễn Bá Chung của William Joiner Center viết tờ căn cước đỏ cho 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản, chê bai những người Việt tỵ nạn cộng sản là “những cái đầu đông đá”.
 
*
 
          “Nhà văn giao lưu Nhật Tiến viết trong “Lời Nói Đầu” quyển sách gỡ gạc cuối đời là ông ta:
 
‘… Một phần vì tôi bận rộn nhiều chuyện phải làm, một phần khác tôi tự nghĩ không nên phí thì giờ vào cái việc săm soi gột rửa gót giầy giữa lúc trời đang mưa’.
 
          Nhiều người cầm bút đã vạch rõ chính cái đầu của Nhật Tiến mới cần gột rửa, chứ không phải gót giầy của ông ta.
 
Nhà thơ Nguyễn Đạt đã diễn tả cái cảnh “vẫy đuôi mừng đảng gian tà” của nhà văn “người đuôi chó” Nhật Tiến như sau:
         
         “Vẫy đuôi mừng đảng gian tà  
          Trăm hoa vẫn nở quê nhà xinh tươi  
          Xin chào mừng đảng đười ươi  
          Hồi hương sáng tác văn người mới hay  
          Về đây đảng nở mặt mày  
          Quê hương “giải phóng” ngày ngày “quang vinh”  
          Vẫy đuôi tình lại gặp tình  
          Thềm hoang chim hót có mình lắng nghe  
          Vẫy đuôi bên cạnh lùm tre  
          Từ đây có đảng giấc hoè càng ngon  
          “Thời gian nước chảy đá mòn  
          Ngờ đâu bia miệng vẫn còn trơ trơ”  
          Vẫy đuôi ngọn cỏ phất phơ  
          Theo chiều gió thổi bây giờ về đâu?  
          Trải qua một cuộc bể dâu  
          Những điều trông thấy mà ngao ngán lòng”
 
                   (thơ Nguyễn Đạt)
 
            Ngày 2 tháng 11 năm 2014 tại Nam California cũng có mấy ông cầm bút rất là “đao to, búa lớn” đã tổ chức cái gọi là “Đại Hội Diên Hồng Thời Đại” (ĐHDHTĐ).  Ba ông này là các ông “sử gia” Phạm Trần Anh, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm (đã quá vãng), cựu Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH và “ông Thủ Tướng Tâm Thần” Chu Tấn, tức cựu Trung Tá Không Quân Trần Như Huỳnh.
 
Thấy trong bài tường thuật thì trong cái gọi là ĐHDHTĐ có sự tham gia của 15 Tổ chức Dân sự gì đó ở trong nước khiến mọi người nhớ đến cái gọi là “Tiểu Diên Hồng: Bàn Tròn Ba Bên” của ông cộng sản gộc Hoàng Minh Chính đã trình diễn khoảng 10 năm trước với mục đích thu gom cộng đồng hải ngoại cho CSVN. Và khi ông cộng sản HMC qua đời thì lãnh tụ 6 chính đảng ở Bắc California đã tổ chức lễ bái lạy di ảnh của ông này. Trong những  kẻ bái lạy di ảnh có cả ông “Thủ Tướng Tâm Thần” Chu Tấn.
 
Mới đây, tình cờ đọc một cái email của ông Chu Tấn, người mà ông Đào Văn Bình, Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị 7 nhiệm kỳ, gọi là “nhà văn không có tác phẩm” gửi cho ông nhà văn Vũ Ngọc Đỉnh (nào đó) ở trong nước mới thấy những chuyện đao to, búa lớn mà Lão Móc đã kể bên trên không nhằm nhòi gì với nhà văn Chu Tấn khi ông này nói về mục đích của cái gọi là Diên Hồng Thời Đại:
 
“… Một trong những mục đích của Hội Diên Hồng (HDH) là sau khi cộng sản sụp đổ HDH vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Khác với HDH xưa, các bô lão chỉ họp một lần, rồi giải tán vì đã có triều đình lãnh đạo đất nước và có Quân đội để tiêu diệt quân Nguyên Mông… Các vị bô lão chỉ thúc dục con cháu tòng quân giết giặc và cổ võ tinh thần yêu nước cho Quân đội, cho triều đình là đủ…
 
Tập Cận Bình (TCB) muốn trở thành bạo chúa hơn cả Mao Trạch Đông, TCB muốn làm bá chủ Biển Đông, bá chủ Đông Nam Á, để tiến bá chủ toàn thế giới! TCB và Ban Tham Mưu của ông phải học lại lịch sử Việt Nam, TCB phải đọc và nghiên cứu tác phẩm tiểu thuyết dã sử của Vũ Ngọc Đỉnh, và phải đọc học cho thấu hiểu bài học của Cô Thợ Cấy Việt Nam thì nước Trung Hoa mới tìm được lối ra…” (Trích email Chu Tấn gửi Vũ Ngọc Đỉnh).  
 
Không biết quý độc giả đọc những dòng chữ trên có biết ông “Thủ Tướng tâm Thần” nói cái gì qua những dòng chữ đao to, búa lớn; nhưng lại chẳng nói lên được cái gì cả. Riêng Lão Móc (LM) xin thú thật: “LM mà biết ông Chu Tấn muốn nói cái gì… chết liền!” 
 
Tập Cận Bình làm quái gì mà phải học lại lịch sử VN, phải đọc và nghiên cứu tác phẩm tiểu thuyết dã sử của cái anh Vũ Ngọc Đỉnh (bá láp nào đó ở VN), phải thấu hiểu bài học của Cô Thợ Cấy Việt Nam thì “nước Trung Hoa mới tìm được lối ra”?
 
Ông “quân sư quạt mo” Chu Tấn thì đao to, búa lớn như thế. Ông xếp sòng của cái gọi là Đại Hội Diên Hồng Thời Đại là ông “sử gia” Phạm Trần Anh (PTA) thì cũng không được “sạch nước cản” một chút nào.
 
Nhìn ông “sử gia” này cầm tấm bảng “OBJECTION”  đứng bên bà nhà thơ Hoàng Xuyên Anh rất ư nổi tiếng với ‘bài thơ gọi Trần Hưng Đạo là “Đức Vua” và là người đã đánh thắng trận Điện Biên Phủ’ cùng với các nhà văn Trần Long (Ngô Thanh Hoàng) [ứng cử chức Tổng Thư Ký VBVNHN kỳ X], nhà thơ Yên Sơn (Trương Nguyên Thuận) [ứng cử chức Chủ Tịch VBVNHN kỳ X] tất cả cùng cầm tấm bảng  có in chữ “OBJECTION” để diễn trò “Thắng làm vua, thua đi xin xỏ” với Văn Bút Quốc Tế, thì mới thấy tư cách của ông “sử gia” PTA cũng không khá gì hơn… phường chợ cá (chữ dùng của Yên Sơn).
 
Giữ một chức vụ to đùng như chức Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành gì đó của ĐHDHTĐ vĩ đại, ông “sử gia” PTA cần quái gì phải đi giành giựt cái chức Chủ Tịch VBVNHN/Vùng Tây Nam Hoa Kỳ làm gì cho nó nhẹ thể? Ra ứng cử chức Chủ Tịch mà lại không đóng niên liễm thì bị loại là phải lắm rồi, còn khiếu nại cái gì? (Theo tiết lộ của VH Huỳnh Kim là ông Cố vấn VBVNHN Trần Thy Vân cho biết là ông “sử gia” PTA, hội viên VBVNHN/Vùng Tây Nam Hoa Kỳ không có đóng niên liễm khi ra ứng cử).
                                                              *
 Khi bài viết “Đao To, Búa Lớn” có lời Hiệu Triệu “đao to, búa lớn” của 3 ông nhà báo Chu Tử, Từ Chung, Hiếu Chân của nhà văn Hoàng Hải Thủy được phổ biến trên trang web cùng tên, có một vị ký tên Giang Nam đã góp ý như sau:
 
“Cả 3 ông viết lời hiệu triệu trên đây đều chết dưới tay cộng sản!  
Cái gọi là “quân đội đứng lên làm lịch sử”, nay đã rõ chỉ là một cuộc phản loạn, làm mất nước về tay cộng sản, khiến cho 3 ông ký giả tuyên ngôn hiệu triệu đều phải chết về tay giặc.  
Không biết có nên nói là người Việt quốc gia chúng ta ngây thơ dễ sợ!”
 
*
 
          “Không biết có nên nói là người Việt quốc gia chúng ta ngây thơ dễ sợ!” Xin gửi ý kiến của nick Giang Nam tới tất cả “những người Việt quốc gia” ở hải ngoại.
 
          Xin nói rõ thêm là khi bị kẻ sát nhân bắn nhà văn Chu Tử không chết; nhưng hình như bị bễ quai hàm và theo báo chí ở hải ngoại thì tác giả tiểu thuyết “Yêu” nổi tiếng một thời với “mối tình Chú Đạt, cháu Diễm” bị chết vì đạn của VC khi vượt biển. Nhà văn, nhà báo Hiếu Chân, tức nhà văn Nguyễn Hoạt, tác giả “Trăng Nước Đồng Nai” được viết khi ông ta dạy học ở trường Khiết Tâm, Biên Hoà bị chết vì bị đi tù VC sau tháng 4 năm 1975.
 
LÃO MÓC

Chính  Danh

[Chìa Khóa Cuộc Tranh Đấu Của Người Việt]

A. Học Thuyết.

Cách đây 2, 500 năm, nhà đại hiền triết Trung Hoa là Khổng Tử chu du thiên hạ, lưu lạc khắp nơi mong bình định các nước đang lâm chiến trong Thời Chiến Quốc. Ngài không có binh hùng tướng mạnh, không có vàng bạc châu báo, vậy mà ảnh hưởng của ngài bao trùm thiên hạ. Các đệ tử hỏi ngài làm sao Thầy tay không mà mong chi phối các vua quan, võ tướng, chính khách. Khổng Tử điềm nhiên trả lời:  “Ta Dùng Chính Danh”. Các đệ tử ngơ ngác hỏi Chính Danh là gì, Thầy Khổng Tử nói vỏn vẹn “Gọi Đúng Sự Việc, Nghĩ Đúng Và Làm Đúng”. Đi đâu nhà hiền triết họ Khổng cũng đem “Chính Danh” ra thuyết giảng và áp dụng vào việc làm. Các triết gia thời đó công nhận rằng “Chính Danh” là học thuyết thực tiễn, hiệu quả, và có đủ sức bình định thiên hạ.
 
Suốt lịch sử mấy ngàn năm qua, thuyết Chính Danh vẫn còn đó, vẫn được một số Chính Trị gia đem ra thực hành, nhưng số người kiên nhẫn thì ít, khi chưa thấy hiệu quả nhiều người đã ngã lòng bỏ cuộc. Những người theo Võ Đạo thì cho rằng Chính Danh là học thuyết không thực tế, phải dùng tới sức mạnh của kiếm cung mới đổi được thời cuộc. Một số khác đánh giá Chính Danh là mơ hồ, không tưởng, không thể áp dụng vào thời buổi nhiễu nhương của thế kỷ mới, có lẽ trước đây vào thời sơ khai thì Chính Danh có hiệu lực, nhưng bây giờ học thuyết đó chỉ nói để chơi chứ không thể đem ra để Trị Quốc An Dân. Cũng có một số khác, kiên trì hơn, suốt đời theo đuổi Chính Danh trên con đường Lập Nghiệp, Tu Thân, Tề Gia và Trị Quốc, tuy có thành công phần nào nhưng vì thiểu số đạo đức bị chìm vào một đa số gian manh, bất chính, xã hội vẫn xáo trộn, bất an.
 
Ở bối cảnh xã hội Việt Nam trước đây, Chính Danh vẫn là một học thuyết đặt căn bản vào đạo lý, dùng lương tâm làm ngọn đuốc soi đường đưa người làm Chính Trị tới mục đích Tề Gia, Trị Quốc. Con Người Chính Danh, thấm nhuần Khổng Giáo, từng lãnh đạo đất nước chúng ta qua 9 năm giông bão là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã thành công đưa Chính Danh vào Quốc Sách trên mọi mặt Chính Trị, Xã Hội, Kinh Tế, Giáo Dục. Ông nâng Tứ Thư, Ngũ Kinh, tôn sùng đạo lý, chủ trương trị quốc, an dân bằng đường lối Nhân Trị thay vì Pháp Trị hay Bạo Lực Trị. Những sai trái mà người ta gán cho chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa thực ra là những lời cáo buộc dồn vào đám Đồ Đệ “Cần Lao” dưới Thời Tổng Thống Diệm chứ không phải những việc làm trực tiếp do ông chủ trương. Chính Danh là con đường đưa TT Diệm từ một hưu quan đi tới vai trò lãnh đạo, để từ đó đưa ông Tu Thân, Tề Gia, và Trị Quốc. Lịch sử đã đánh giá những năm cầm quyền của TT Diệm chính là bài thực dụng của Chính Danh, tuy có thành công trên mặt Tu Thân và Trị Quốc, nhưng có thể đã khiếm khuyết về Tề Gia mà đưa đến thảm bại.
 
Những guồng máy Chính Trị kế vị TT Diệm sau khi ông bị hạ sát có áp dụng Chính Danh hay không trong việc cai trị Miền Nam, giờ đây ai cũng lượng định bằng cách so sánh các nhà Chính Trị sau năm 1963 với người tiền nhiệm. Có những người cố mang thuyết Chính Danh vào việc làm nhưng không thành công vì trong lương tâm họ không có Chính Danh. Một số khác đôi lúc muốn chứng tỏ mình có Chính Danh để cầm quyền, nhưng cuối cùng vẫn để lộ một bộ mặt thiếu Chính Danh, thiếu Đạo Đức. Tuy vậy, những nhà cai trị Miền Nam từ 1963 tới ngày mất Miền Nam vào tay Cộng Sản vẫn không ai bị buộc tội là theo chính sách Bạo Lực Trị như nhóm cầm đầu Miền Bắc, những kẻ mà lịch sử không phải chờ lâu vẫn có thể kết án là Không Có Chính Danh, Vô Đạo Đức, Bất Chính và Bất Nhân. Đối với Cộng Sản dù ở Nga, ở Tàu, ở Cam Bốt hay ở Việt Nam, học thuyết Chính Danh không có chổ đứng, vì căn bản của Chính Danh là đạo lý, mà nếu không có đạo lý thì làm sao có Chính Danh? Vì không có Đạo Đức và không có Chính Danh mà Cam Bốt phải chịu cuộc tàn sát khủng khiếp nhất trong lịch sử của nhân loại tù 1975 tới 1979.
 
B. Hiện Tượng.
 
Người Việt Quốc Gia, sau cơn Hồng Thủy 1975, đã nhận ra rằng dù nghèo khổ, dù vất vả, dù lo âu, dù phải đương đầu với trăm ngàn cơ cực, cuộc sống Miền Nam trước 1975 vẫn còn tự do cho họ thở, cho họ nói, cho họ sống tự do, khác với cuộc sống của người dân Miền Bắc trong gông cùm Cộng Sản từ năm 1954. Hệ luận đó đã đưa chúng ta tới những kết luận khác trong suy tư Chính Trị rằng, dù có bất mãn với chế độ Miền Nam trước đây, cuộc sống Miền Nam vẫn hơn cuộc sống ở Bắc Việt. Ông Diệm, Ông Thiệu dù có xấu đến đâu cũng không tệ bằng Hồ Chí Minh, và người Lính Miền Nam dù có tệ đến đâu cũng không ác bằng thằng Lính Nón Cối. Khi biết được điều đó thì đã muộn, gần hai triệu Người Việt nhận được bài học chân lý đó sau khi nếm mùi Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa hoặc đã Bị Nướng 9, 10+ Năm Trong Trại Tù. Lúc đó người Miền Nam mới hiểu ra rằng các chế độ Miền Nam đã có Đạo Đức, có Chính Danh, dù không trọn vẹn.
 
Khi ra khỏi nước, sống một thời gian ở xứ người và làm quen với tình trạng vật chất, con Người Việt Nam thay đổi từ bên ngoài vào đến bên trong, từ diện mạo cho tới tư tưởng, và xa dần căn bản Chính Danh của luân lý Đông Phương. Người ta cho rằng Chính Danh không đem lại cơm áo, xe hơi, nhà mới. Người Việt bác bỏ Chính Danh và những nguyên tắc đạo lý căn bản để tập cho mình một “mác” mới về xã hội, về công danh, về đường lối suy tư. Một số quên rằng mình đã một thời sinh ra ở đất Việt, uống nước từ dòng sông Việt, ăn cơm từ cánh đồng Việt Nam, và tiếng khóc chào đời là tiếng Việt Nam. Đánh mất Chính Danh, họ đánh mất luôn đạo lý cổ truyền, để hồ hởi lột xác mình cho hết dấu vết Việt Nam, mong mình làm một người Mỹ, một người Pháp, một người Anh qua tên tuổi mới, quốc tịch mới, và một linh hồn lai căng mới Tất cả những suy tư trên đây đã được biểu lộ ra trên phương diện cá nhân, xã hội, Chính Trị và cả linh hồn.
 
1. Chính Danh Cá Nhân:
Chính Danh cá nhân nằm trong tên người, chúng ta mang từ lúc cha sanh mẹ đẻ. Tên người là một thứ căn cước cá nhân mang giòng máu huyết của giòng họ, của bộ tộc, của quê quán, của những hoài bảo ước mơ gia đình. Khi sinh ra, cha mẹ, ông bà mong con cháu đạt những thành quả được gói ghém trong tên khai sanh. Chúng ta không cần phải diễn nghĩa thêm ở đây, vì tên Việt Nam nào cũng có họ hay tên tộc, tiếp theo là tên đệm để bổ nghĩa cho tên riêng, họp lại thành một tên kép chứa đựng hy vọng của mẹ cha. Tên Việt Nam xuất xứ từ Văn Chương, có thể là Văn Chương Việt Hán, trong khi tên Anh ngữ, Pháp ngữ xuất xứ từ thánh kinh, có điển tích nhung không có ý nghĩa gì. Người Việt ra nước ngoài nhiều khi vì vọng ngoại mà thay tên mình bằng tên Mỹ, tên Pháp, và có người còn Vọng Ngoại đến độ thay đổi cả họ hay tên tộc, lấy cớ rằng cần đổi mới hay cho dễ đọc. Đây là những lý do ấu trĩ và thiếu Chính Danh, tự đồng hóa mình với những người sinh ra ở một phần đất khác không có đạo lý giống mình. Nhiều cha mẹ đã mắc phải lỗi lầm là chìu con cái khai tên trẻ sơ sinh bằng tên Mỹ hay đổi tên con khi nhập tịch, đẩy con cái vào Văn Hóa xa lạ và mất gốc, tưởng như vậy là Cấp Tiến.
 
Một số người khác, mắc Bệnh Vọng Ngoại, thường ghi tên mình theo lối Việt nhưng ký tên theo lối Mỹ, tạo một thứ Lai Căng Không Ra Voi, Không Ra Chuột. Đây là một số người mang tư cách lãnh đạo Tập Thể hay có thành tích tranh đấu và hướng dẫn Người Việt, nhưng tự đánh mất giá trị Đạo Đức và Chính Danh, đưa đến tình trạng người ký khác với người được ghi tên trong tin tức hay tài liệu. Không biết những Nhà Lãnh Đạo này, muốn ký tên theo Lối “Lai”, có đủ Đạo Đức để lãnh đạo người khác hay không, khi tên ông viết khác, chữ ông ký khác. Ở Miền Tây, lãnh tụ Hồ Anh Tuấn mang chữ ký là Tuấn Anh Hồ. Ở Miền Đông, Ông Nguyễn Mậu Trinh ký tên Trịnh Mâu Nguyễn. Hai vị này là lãnh tụ, có tên đăng khá thường xuyên trên báo chí, đồng bào biết nhiều, nhưng hai ông không nhận mình là Người Việt thì hai ông lãnh đạo ai? Có thể ông sẽ nói là người Mỹ ký như vậy. Vâng, Mỹ nó ký như vậy, ông là Người Việt thì cứ ký theo lối Người Việt được không? Và người Mỹ không có luật nào bắt buộc ông phải ký theo lối của họ.
 
Về Chính Danh Cá Nhân, chúng ta phải thắc mắc tại sao rất nhiều báo chí Việt, đăng tin cho Người Việt đọc, quảng cáo cho Người Việt mua, mà cứ phải đăng tên các chuyên viên Bảo Hiểm, Địa ốc, Thẩm Mỹ theo lối Mỹ? Người Mỹ đâu biết tới mấy ông bà mà ông bà cứ phải khai là Jane Tran, Peter Vo, Jennifer Lam, Scott Nguyen .... Quý Vị đăng quảng cáo Quý Vị là chuyên viên Việt Nam phục vụ Người Việt tận tâm như Quý Vị nói trong quảng cáo. Nếu Quý Vị đăng tên là Trần Kim Dung, Võ Phúc, Lâm Kim Tuyết, Nguyễn Ngọc Chung ... thì chắc chắn khách hàng Việt Nam tin tưởng vào sự phục vụ của Quý Vị hơn.
 
Về phương diện Chính Danh Cá Nhân, người viết xin tỏ lòng ngưỡng mộ giới y sĩ Việt Nam đã nêu gương sáng cho các giới khác khi Quý Vị ghi tên trên bảng quảng cáo y nguyên theo lối Việt. BS Phạm Hoàng Trung, ĐYS Dương Lai Cảnh, BS Hồ Tấn Phước, Nha sĩ Phạm Thị Thanh v.v…. Có vị còn ghi thêm dưới tên mình “Nguyên y sĩ Sư Đoàn ..., nguyên nha sĩ Bệnh viện ...” thật dễ thương và đáng thán phục hơn nữa là nhiều vị y sĩ mang tên rất mộc mạc, hoàn toàn Việt Nam, vẫn đăng đầy đủ như hồi con trong nước. Họ phục vụ bệnh nhân Việt, việc gì phải mang mầu sắc Mỹ Hóa, do đó các bệnh nhân rất thương mến, và đối với họ việc quảng cáo “Bác Sĩ Việt Phục Vụ Người Việt” là thừa.
 
2. Chính Danh Tập Thể:
Bước chân ồ ạt của hơn một triệu Người Việt tới Hoa Kỳ đã tạo nên một cảnh “Tạp Pí Lù” Đoàn Thể, Hiệp Hội, Tổ Chức, Cơ Quan Cộng Đồng, kể tất cả phải lên tới con số hàng ngàn, nhưng không ai giống ai, không hội nào thuộc về hội nào hay có liên hệ với một tổ chức nào. Một số hội không mệnh danh là hội mà lấy tên là “Gia Đình” cho vừa lạ vừa có vẽ thân thuộc. Một số tổ chức mang tên đầy lịch sử mà chỉ làm công tác ái hữu. Bên trên các hội, các nhóm, các đoàn lại mọc ra một số “Hội Nghị” hay “Nghị Hội”, Phong Trào, Mặt Trận, Chiến Dịch, rồi lại thêm một số Chính Phủ, Hội Đồng rập khuôn theo công thức chính quyền hồi còn ở trong nước. Hầu hết các tổ chức mang tên rất lớn, hoạt động một thời gian rồi “Ngủm” không kèn không trống và cũng chẳng ai thắc mắc hay đi đám tang. Tất cả chỉ là một Màn Kịch làm cho vui, Lấy Tiếng, và đôi khi Để Lấy Tiền.
 
Vì hầu hết các tổ chức Người Việt không có Chính Danh và không Định Hướng được mục tiêu, họ hoạt động lấy lệ, và rất tự hào. Niềm tự hào đó chỉ nằm trong Tự Ái, ai cũng muốn có một Hội Riêng mà mình làm Chủ Tịch chứ không muốn làm Phó cho một người khác để họ chỉ tay năm ngón. Ai cũng muốn có một danh xưng quan trọng để ký giấy tờ, mặc dù giấy tờ chỉ là mấy lá thư thăm hỏi nhau. Không Ông Chủ Tịch nào muốn đặt hội mình vào hệ thống một hội khác để làm việc cho hữu hiệu hơn, và càng lại không muốn hội mình mang cùng tên hội khác khi sáp nhập chung. Đây là bài toán thách đố mọi người làm Chính Trị thật sự, làm sao qui tụ được các hội vào một hệ thống, mang một danh xưng, chung một hướng đi, và chia một ngân sách. Hai mươi tám năm qua, chúng ta đã tự xé lẻ thành nhiều mảng nhỏ, yếu ớt rời rạc, chê bai nhau rất nặng lời. Bây giờ làm sao ghép lại hết thành một khối duy nhất để chung sức mạnh?
 
Chỉ riêng một danh xưng đã là vấn nạn không ai giải quyết được. Nếu tất cả mọi hội đều mang tên một danh xưng, thí dụ “Cộng Đồng Người Việt Tự Do”, “Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNTD” v.v... thì chúng ta mới biểu dương được sức mạnh của một tập thể gắn bó và đoàn kết. Hiện nay hiệp hội Việt Nam trên đất Mỹ, đất Pháp hay bất cứ một quốc gia nào có Người Tị Nạn cư ngụ là một rừng cây rậm rạp nhưng không có hoa, có trái, ai muốn “Ba Cây Chụm Lại Thành Hòn Núi Cao” quả là một việc đội đá vá trời. Gần ba thập niên qua, chưa ai làm được việc này kể cả mấy tổ chức tự xưng là “Nghị Hội Toàn Quốc” hay “Chính Phủ”. Nhiều người cho rằng càng nhiều hội càng tốt, điều đó có thể đúng khi nào nhiều hội mà cùng làm chung một việc, cùng mang chung một danh xưng, và cùng hướng về một mục tiêu. Tình trạng nhiều hội mà mỗi hội đi theo một hướng, chém vè nhau thì thật là vô vọng, chứng tỏ chúng ta không phải là một khối đồng nhất mà chỉ là một tập thể hỗn tạp, chia rẽ nặng nề. Do đó nhu cầu cấp bách hiện nay là làm sao để tất cả các tổ chức Người Việt Quốc Gia cùng mang một danh xưng và thống thuộc một hệ thống hàng dọc, có tôn tri trật tự, phục vụ một lý tưởng chung, chứ không thể phân tán hàng ngang một cách vô kỷ luật như hiện nay.
 
3. Chính Danh Văn Hóa:
Văn Hóa là sức sống của một Dân Tộc, với một nền tảng căn bản là truyền thống, ngôn ngữ, sinh hoạt, y phục, đồ ăn, cách sống và các định chế giáo dục, kinh tế, xã hội v.v.... Không có một tập thể nào mà không có Văn Hóa, và ngược lại không có một nền Văn Hóa nào không xuất phát từ một tập thể dù nhỏ, dù lớn. Điển hình cho Văn Hóa của bất cứ tập thể nào có lẽ nỗi bật nhất là ngôn ngữ, qua chữ viết, qua cách truyền thông, qua văn chương, báo chí và biểu tượng diễn đạt ý kiến và tư tưởng. Ngôn ngữ là chìa khóa chính để biểu lộ tâm tư, và cũng là chiếc xe chuyên chở những tâm tư ấy.
 
Việt ngữ, qua 4 thế kỷ từ ngày được phát minh, đã được kiện toàn và đạt tới mức tinh vi, huyền dịệu để làm một môi trường truyền đạt. Về cấu trúc, Việt ngữ có nhiều điểm tinh vi hơn các ngoại ngữ. Về âm thanh, Việt ngữ đứng trên mọi thứ tiếng khác nhờ hệ thống dấu mang một thứ hòa âm trong từng chữ mà không một ngôn ngữ nào trên thế giới có thể sánh được. Về từ ngữ, Việt ngữ có đầy đủ khả năng diễn tả mọi ý niệm dù phức tạp, dù trừu tượng. Về chuyên môn và kỹ thuật, Việt ngữ dựa vào danh từ Việt Hán để diễn tả mọi ý tưởng khoa học, toán học với đầy đủ chính xác. Thế mà, tới nay nhiều ngòi bút Việt ngữ vẫn coi thường Việt ngữ trong một mặc cảm tự ti rất buồn cười. Nhìn vào nhiều tờ báo, nhiều tài liệu, chúng ta vẫn thấy người viết dùng ngoại ngữ để diễn tả thay cho tiếng Việt, coi Việt ngữ như không đủ khả năng truyền Thông. Đây là một sai lầm lớn về Chính Danh Văn Hóa, khi người viết không coi trọng tiếng Việt mà chỉ coi trọng tiếng nước ngoài. Ngay đến lối viết tiếng Việt cũng đã bị pha trộn để thành lai căng, mất gốc.
 
Tại sao chúng ta đánh mất Chính Danh về Văn Hóa? Câu trả lời là một số Tác Giả, Phóng Viên, Ký Giả tới nay vẫn còn nghĩ tiếng Việt yếu kém, thiếu sâu sắc, thiếu hiệu lực diễn tả, cần phải có tiếng Pháp, tiếng Anh trợ lực. Một số khác có lẽ cho Pháp ngữ, Anh ngữ mới đủ sức diễn tả các ý niệm cao, các danh từ khó, vì tiếng Việt nông cạn, thô sơ. Họ lầm nghĩ rằng Anh, Pháp ngữ mới là ngôn ngữ của người trí thức học rộng biết nhiều, còn tiếng Việt là ngôn ngữ của giới bình dân hay người thất học. Không biết chúng ta có nên trách họ trọng người khinh mình, hay tội nghiệp họ vì bộ óc của họ lệch lạc vì vọng ngoại. Khi đọc một trang báo, thấy đầy rẫy tiếng Anh chua vào để diễn giải tiếng Việt, không ai không thấy bực mình, nhất là bài viết của một vài người trẻ, trong 1 trang có tới 20 tới 30 lần dùng Anh Ngữ. Nếu tác giả viết trên một tờ báo Việt tại sao phải cần tới ngoại ngữ? Nếu tác giả thích dùng ngoại ngữ thì tại sao không viết cả bài bằng ngoại ngữ và giao cho một tạp chí Anh ngữ đăng? Hơn 50 năm rồi mà ngày nay mấy bộ óc nô lệ vẫn còn sót lại, mà một số Người Việt vẫn không biết mình đang sĩ nhục tiếng mẹ đẻ vì tự đánh mất Chính Danh Văn Hóa.
 
Trên một bình diện khác, Chính Danh Văn Hóa đòi hỏi con người trung thành với các truyền thống tập tục của những thế hệ trước, trong đó có cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Đây là một đề tài tranh cãi vì nó có liên hệ tới Chính Danh Chính Trị. Đúng vậy, con người mang Chính Danh Văn Hóa giữ lối sống gắn bó với tinh thần dân tộc cổ truyền, không ai bị ảnh hưởng vì những lý thuyết ngoại lai mệnh danh là ý thức hệ. Một Dân Tộc nặng Chính Danh Văn Hóa mãi mãi ràng buộc mình với lề lối sinh hoạt có lâu đời đã được chứng minh là giá trị tinh thần của Bộ Tộc hay Quốc Gia. Những kẻ đánh mất Chính Danh Văn Hóa thường chạy theo tư tưởng mới, lối sống mới, ý thức hệ mới, ngụy trang dưới chiêu bài “Cách Mạng Văn Hóa” hay “Cách Mạng Bạo Lực”.
 
4. Chính Danh Chính Trị:
Đây là đề tài sôi nổi nhất trong trường hợp Người Việt chúng ta, nhất là khi Chính Danh Chính Trị có phần nào trùng hợp với Chính Danh Văn Hóa.
 
Ở Việt Nam trước ngày 30/4/75, dân ta có Chính Danh Văn Hóa và Chính Danh Chính Trị, với những nét đặc thù của dân tộc tính, và một chính thể dựa trên căn bản Nhân Trị. Bắc Việt, kể từ 20/7/54, không hề có Chính Danh Văn Hóa mà cũng chẳng có Chính Danh Chính Trị, vì nhóm lãnh đạo Miền Bắc bỏ hầu hết những truyền thống của tổ tiên để quân sự hóa dân chúng phía Bắc Vĩ Tuyến 17, du nhập chủ thuyết Cộng Sản từ Nga và Trung Cộng để mê hoặc đàn cừu. Miền Nam, dưới chế độ tự do đầy đủ, sống với một guồng máy điều hành hoạt động trên luật pháp lấy chữ “Nhân” làm gốc để giáo huấn hơn là trừng phạt con người. Guồng máy đó chỉ thay đổi phần nào kể từ 1/1/60 khi cái Quái Thai do Hà Nội đẻ ra là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” ra đời, xé bỏ Hiệp Định Geneve để phá rối an ninh công cộng, đàn áp nông thôn, mong nuốt giải đất Miền Nam Vĩ Tuyến 17, và nuốt thật vào năm 1975. Đối với Cộng Sản, không cần Chính Danh Chính Trị mà chỉ cần cái gọi là “Đạo Đức Cách Mạng, Lấy Bạo Lực Và Gian Trá Làm Nồng Cốt”.
 
Nhưng Chính Danh Chính Trị là gì? Nó bắt nguồn từ Chính Danh Văn Hóa và nếu không có CHÍNH DANH Văn Hóa thì không có CHÍNH DANH Chính Trị. Hai ý niệm này song song với ý niệm “không có lửa thì không có khói”. Ở trường hợp Người Việt Lưu Vong, CHÍNH DANH Chính Trị đòi hỏi sự gắn bó với dân tộc tính, với chính thể tự do, với lập trường Quốc Gia Không Cộng Sản, và với danh nghĩa của Người Tị Nạn Cộng Sản. Muốn có CHÍNH DANH Chính Trị, chúng ta cần phân biệt giữa Quốc Gia và Cộng Sản, giữa Vàng với Đỏ, giữa Trắng với Đen, giữa Dân Tộc Tính và Đảng Tính, và quan trọng hơn hết, điều kiện cần phải có là Chính Danh Văn Hóa. Trong một tập thể hỗn tạp, phân tán như sắc dân Việt lưu vong như hiện nay, nhiều người không phân biệt đâu là Xanh đâu là Đỏ, không biết ai là Cộng Sản ai là Quốc Gia, không nhìn thấy đâu là Chính Danh đâu là ngụy danh, cứ nhắm mắt heo thời kiểu “Tới Đâu Hay Tới Đó”. Đây là một trạng thái đáng lo ngại, thường xảy ra trong những năm đầu của kỷ nguyên lưu vong, nhưng tưởng ba thập niên qua cũng là quá đủ để chúng ta ý thức lại vấn đề Chính Danh Chính Trị này:
 
a. Phân Biệt Vàng Đỏ:  Bỏ nước ra đi, chúng ta có xác định được mình ở thế đứng nào không? Về Văn Hóa, chúng ta tự nhận là Người Việt, nhưng về Chính Trị, xác nhận thế là chưa đủ. Một Người Mỹ cứ nghĩ rằng mọi Người Việt đều giống nhau vì người nào cũng mũi tẹt, da vàng, nói tiếng Việt. Đây là điều ngộ nhận trong những bộ óc, con mắt mù lòa của Người Ngoại Quốc vì họ không biết ai là Người Việt theo Cộng Sản và ai là Người Việt Chống Cộng Sản. Bổn phận của chúng ta là phải xác nhận mình thuộc khối Người Việt nào, chú không thể chỉ nói tôi là Người Việt. Quý Vị là Người Việt Vàng hay Người Việt Đỏ. Quý Vị là Người Miền Nam Tị Nạn Chính Trị ở Nước Ngoài, hay Quý Vị là cán bộ Cộng Sản đi sang đây làm gián điệp. Trên ngực áo Quý Vị có đeo một Lá Cờ Vàng để tự xác định thế đứng Chính Danh Chính Trị của mình mà không cần giải thích? Xin Quý Vị nói với người ngoại qưốc nào hỏi, “Tôi là Công Dân Việt Nam Cộng Hòa, không phải là Người Việt Hà Nội” Một cách bình dân, xin Quý Vị nói với bạn bè Quý Vị (nếu là người sinh quán Bắc Việt) “Tôi là Bắc Kỳ 9 Nút, không phải loại Bắc Kỳ 2 Nút”. Như vậy Quý Vị mới nêu rõ được Chính Danh Chính Trị của Người Việt Quốc Gia.
 
b. Nhận Diện Màu Đỏ:  Năm 1979, Đặng Tiểu Bình, muốn cứu Trung Hoa lục địa ra khỏi vòng cô lập của thế giới, đã đổi danh xưng Trung Cộng thành Trung Quốc qua câu nói rất hóm hỉnh:  “Mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”. Sau đó cả thế giới bị lừa, Trung Cộng vẫn là Trung Cộng, tôn thờ Mác/Lê Nin, nhưng du khách quốc tế đổ vào Trung Cộng để giúp kinh tế Trung Cộng sống lại sau mấy thập niên lụn bại vì bị thế giới lãng tránh. Người Việt nhẹ dạ cũng đã lầm, kể cả báo chí, các đài TV, phát thanh, gọi xứ Cộng Sản Tàu là Trung Quốc, nghe rất hiền lành và vô thưởng vô phạt. Cái tai hại là Trung Cộng dấu được cái đuôi đỏ để vồ tiền thế giới, và giờ đây thế giới vẫn đổ tiền vào Trung Cộng làm giàu cho kẻ thù vĩ đại đã tàn sát không biết bao nhiêu triệu người và đở đầu cho thằng Cộng Sản Đàn Em ở Hà Nội. Không có Trung Cộng thì làm sao Bắc Việt thành Cộng Sản và xâm chiếm Miền Nam? Thậm chí có cả Người Việt đem tiền vào thăm Trung Cộng để làm giàu cho kẻ thù. Quý Vị ơi, trên thế giới này không có nước nào là Trung Quốc, chỉ có Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan là đồng minh với VNCH trong cuộc chiến vừa qua, còn Trung Cộng là kẻ thù của VNCH. Vì nó mà VNCH bị khai tử. Quý Vị đem tiền vào giúp Trung Cộng thì Quý Vị còn Chính Danh Chính Trị không?
 
c. Thành Phố Ma:  Báo chí Việt Ngữ khi loan tin tức ở trong nước, vẫn ngây thơ gọi Sài Gòn là “Thành Hồ”, tưởng như vậy là dí dõm hay hài hước. Có một số bài báo gọi đích danh Sài Gòn là TP/HCM vì theo bản tin từ VN gởi qua, đăng “Nguyên Con” một cách vô tội vạ. Thật ra đây là một điều tai hại khôn lường, giúp người đọc lâu dần quên rằng quê hương chúng ta vẫn nằm trong tay Cộng Sản và cho rằng Cộng Sản “Ngày Nay Khác Cộng Sản Ngày Xưa”. Những người viết bài đã phạm một lỗi lầm lớn là vi phạm Chính Danh Chính Trị, không hướng dẫn độc giả mà còn tiếp tay tuyên truyền cho một chế độ ma quỉ bên ngoài trông hiền lành nhưng bên trong độc ác, bạo tàn. Ở trong nước, Cộng Sản kê lưỡi dao vào cổ, người dân bắt buộc phải đổi tên Sài Gòn thành tên Con Cáo, nhưng ở đây, tại sao Quý Vị đánh mất lương tâm để tàn nhẫn gọi tên thành phố yêu quí của chúng ta là Thành Phố Ma? Một lần tôi đã nghe, trong một buổi lễ, vị linh mục đọc tên TP/HCM rồi sau đó, bị giáo dân chất vấn, biện luận rằng tên đó nằm trong chỉ thị của Tòa Thánh. Ôi Tòa Thánh nào bắt Quý Vị gọi Sài Gòn là Thành Phố Ma trên đất Mỹ này? Ở đây nếu Quý Vị cứ gọi Sài Gòn thì Tòa Thánh nào phạt Quý Vị không?
 
d. Tướng Của Ai:  Người Việt ở Nước Ngoài rất vô tâm khi đề cập tới một số tên Cộng Sản Gộc, có tăm tiếng, không minh định rõ bọn này, dù phản tỉnh hay ngoan cố vẫn là Cộng Sản. Báo chí một đôi khi loan tin “Thủ Tướng Võ văn Kiệt, Trung Tướng Trần Độ, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, v.v...” coi như những tên này là thủ tướng, trung tướng, tổng bí thư của mình. Cách viết danh xưng hay nêu tên này rất quan trọng và khi nào mình chấp nhận nó người viết mới đặt chức vụ hay cấp bậc trước tên. Ngược lại, nó là Cộng Sản, Cấp Bậc hay Chức Vụ của nó chỉ là để phía sau, hay không cần nhắc tới. Một số báo chí Việt ngữ đã rất thận trọng và chính xác khi loan tin về Cộng Sản và đặc biệt không chấp nhận vai trò của những tên Cộng Sản này. Nhiều bản tin ghi “Trần Độ, Tướng CS”, “Thủ tướng CS Võ Văn Kiệt”, hay “Mai Văn Bằng, Đại sứ CSVN” v.v.... Điều này cho thấy người viết bản tin có Chính Danh Chính Trị, không chấp nhận Hệ Thống Cấp Bậc của CSVN khi viết tin. Trong khi đó một số báo chí khác vẫn nhập nhằng ghi chức vụ và cấp bậc của mấy tên Cộng Sản y hệt như khi loan tin tướng lãnh, viên chức chính phủ VNCH. Những người viết tin như vậy Coi Vàng Cũng Như Đỏ, CSVN cũng như chính thể VNCH, còn họ đứng giữa. Có thể họ không nhận thức được kỹ thuật viết tin để biểu lộ lập trường Chính Danh của mình.
 
e. Giải Phóng Hay Xâm Lăng:  Tới nay, 28 năm qua, vẫn còn có người gọi ngày 30/4/75 là “Ngày Giải Phóng”. Không biết những người này có mắc bệnh tâm thần không, nhưng trong số này có cả một số cựu Sĩ Quan từng bị Cộng Sản bắt nhốt hàng chục “Mùa Thu” trong Trại Tù BV. Vài người trước đây không bị tù đầy, quen miệng vì nghe người khác nói “Giải Phóng” ở ngoài chợ thì có lẽ chúng ta không lấy làm ngạc nhiên, nhưng chữ “Giải Phóng” phát ra từ miệng một ông cựu Đại úy, hoặc Thiết tá, ăn bo bo mút chỉ ở Lạng Sơn, Cao Bắc Lạng, khi về mất cả vợ con, thì thật là một hiện tượng quái đản không ai chấp nhận được. Điều đáng ngạc nhiên hơn là khi có người gọi ngày 30/4/75 là “Giải Phóng”, người nghe vẫn thản nhiên không cải chính, không sửa lưng mà vẫn thản nhiên chấp nhận coi như không nhằm nhò gì. Hiện tượng này trước đây xảy ra rất thường xuyên nhưng nay tuy đã bớt, vẫn còn đôi khi xuất hiện, một phần vì người nói thiếu ý thức và Chính Danh Chính Trị, và người nghe bàng quan không muốn than phiền để làm mất lòng người khác, nhất là khi người đó từng là Sĩ Quan Cấp Tá “từng 10 năm đốn gỗ trên rừng”. Điều nhục hơn nữa là chính bây giờ Cộng Sản đã thú nhận xâm lăng Miền Nam, mà Người Miền Nam vẫn còn quen miệng gọi là “Giải Phóng”.
 
f. Tù Hay Cải Tạo:  Cảnh tù đầy ở VN sau ngày Cộng Sản xâm chiếm là một hiện tượng cả thế giới đã biết, đã công phẫn. Báo chí quốc tế vẫn gọi rõ những “goulag” Việt Nam là các Trại Tù, Trại Tập Trung, giống như những địa điểm Đức Quốc Xã nhốt và tiêu diệt dân Do Thái hay quân đội Đồng Minh Thời Đệ Nhị Thế Chiến. Thế mà chính Người Tù từ những cõi chết này trở về lại gọi đó là “Trại Cải Tạo”, và những năm họ bị nhốt trong Trại Tù là “Thời Gian Học Tập”. Một số Sĩ Quan và Viên Chức chính quyền VNCH dường như trước đây không biết hay không đọc Hiệp Định Paris, trong đó có ghi rõ rằng phe Bắc Việt không được phép bắt tù các thành phần Quốc Gia Miền Nam. Để tránh chữ “Bắt Tù” và bịp thế giới, CSBV đổi các Trại Tù thành “Trại Cải Tạo” để đánh lừa dư luận và cho quốc tế thấy chúng tuân hành Hiệp Định 1973 về Việt Nam. Một số SQ/QLVNCH đã bị sập bẫy tuyên truyền của Công An, kể cả một ông SQ cao cấp là Đại Tá Nguyễn Thu Lương, trong cuốn phim “Người Lính”, gọi thời gian đi tù “Là Thời Gian Cải Tạo” và Trại Tù là “Trại Cải Tạo”. Ngược lại, Đại Tá Võ Công Hiệu, trong bộ phim “Hành Trình Tìm Tự Do”, khẳng định là ông Đi Tù, không hề nhắc tới chữ “Cải Tạo”. Trong đầu hai vị SQ cao cấp này, một từng là Lữ Đoàn Trưởng Dù, một là Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh, ý niệm Chính Danh Chính Trị thực sự đã đứng giữa Bóng Tối và Ánh Sáng.
 
g. Cố Tình Hay Vô Tình:  Kể từ bắt đầu Thập Niên 90’s, Người Tị Nạn Việt Nam, một số thành phần Quốc Gia, Cựu Tù Nhân Chính Trị đã đánh mất thế đứng Chính Danh của mình trước dư luận quốc tế, rơi vào cái bẫy đổi mới và mở cửa của bọn gian manh Bắc Việt. Khi CSBV đói gần chết, cạn kiệt ngoại tệ, và bị Bố Liên Sô bỏ rơi, nó tung đòn “Mở Cửa” để chiêu dụ Người Việt Hải Ngoại. Những con người ngây thơ một lần bỏ nước hy sinh mạng sống ra đi trên biển cả, trên đường bộ, lũ lượt kéo nhau về thăm quê cũ, lấy cớ rằng bố sắp chết, mẹ đau, con cưới vợ, cháu lấy chồng, ồ ạt áo gấm về làng. Trước 1990, số người về tuy có nhưng ít xuất phát từ Mỹ mà chỉ từ các quốc gia Âu Châu hay Úc. Thập Niên 90’s mở màn, CSVN tung thêm chưởng để Mồi Chài Người Tị Nạn có quốc tịch Mỹ về làm ăn, buôn bán, nhưng thực ra chẳng làm ăn được gì, có người sau đó phải bỏ của chạy lấy người. Thế mà vẫn có dân Việt Hải Ngoại Huênh Hoang “Áo Gấm Về Làng”, để nhận lấy chiêu bài đĩ điếm mà Cộng Sản tặng cho ngày bỏ nước ra đi. Ngồi trên chiếc ghe ọp ẹp giữa biển khơi tưởng sắp làm mồi cho cá mập, họ thề rằng không bao giờ họ về với Cộng Sản. Nhưng chỉ một thập niên, chính những con người từng “Bỏ Phiếu Bằng Chân” để tố cáo CSVN với thế giới lại có mặt ở Sài Gòn, ăn chơi phè phởn, ôm gái ở khách sạn, hay xây nhà xây cửa cho vợ hai ở Biên Hòa. Họ cố tình hay vô tình về để ủng hộ Cộng Sản? Người Tị Nạn, hay Cựu Tù Chính Trị, về thăm đường xưa lối cũ đều biện bạch rằng:  “Không, tôi về vì gia đình, vì nhà cửa, tôi không ủng hộ Cộng Sản”. Lời biện bạch mới nghe có vẽ hiền lành lương thiện ấy chẳng che dấu sự thực, một sự thực phũ phàng:  Trong số tiền vé máy bay từ ngoại quốc về Việt Nam từ 800 dollars tới 1500 dollars 10% được nộp vào túi Đảng Cộng Sản Việt Nam, cho Võ văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh mua nhà ở Pháp, gửi tiền ở Thụy Sĩ, gởi con đi du học ở Mỹ, nuôi gái ở Nhật .... Số tiền khổng lồ ấy do Người Tị Nạn tặng cho Đảng đã được dùng để mua súng ở Trung Cộng, để mua tăng ở Nga, mua hoả tiển ở Tiệp, để nuôi quân ở Lào, ở Cam Bốt, để lập toà lãnh sự ở San Francisco, để lập cửa hàng thương mãi cho Đảng ở Los Angeles, để thực hiện phim tuyên truyền gửi ra cho các tiệm sách báo ở Paris, ở Praque, ở Toronto, ở New York. Tiền súng tiền tuyên truyền, tiền cho con đi học ở ngoại quốc là tiền của Quý Vị đấy. Cả số tiền khổng lồ dành cho Công An bắt nhốt và theo dõi Quý Vị cũng là tiền của Quý Vị đấy. Cái còng tay mang nhãn hiệu Made in USA để bắt nhốt BS Nguyễn Đan Quế, Ông Võ Đại Tôn, Bà Dương Thu Hương v.v... đều đã được mua bằng tiền của Người Tị Nạn Hải Ngoại đóng góp qua vé máy bay, tiền điện thoại, gửi tiền v.v….
 
Quý Vị có lẽ vô tình không nhận thức rằng trong các Quốc Gia Á Châu và Đông Nam Á, giá điện thoại gọi từ ngoại quốc về Việt Nam cao nhất. Quý Vị gọi thăm cha mẹ, anh em, con cháu là điều Quý Vị nghĩ tới, nhưng mỗi luồng sóng trên đường giây cũng mang vào cho Đảng một khoảng tiền mà Quý Vị không bao giờ nghĩ tới. Nếu có Chính Danh Chính Trị, Quý Vị sẽ nhận ra rằng tại sao từ một quốc gia Âu Mỹ vào Đông Nam Á, kỹ thuật cũng như nhau mà giá điện thoại vào VN cao gấp đôi nước khác. Thưa vì, trong cái thế giới mờ ám ở Việt Nam, đường giây điện thoại là một kế hoạch kinh doanh lợi hại của Đảng Cộng Sản. Từ Mỹ đi Đài Loan, Nhật, Singapore luồng sóng điện thoại đi từ vệ tinh xuống tổng đài một cách công khai, ngay thẳng. Nhưng cái đường giây từ Mỹ, từ Pháp, từ Canada về Việt Nam nó chui xuống gầm bàn rồi chạy vào phòng họp của Bắc Bộ Phủ, sau vào túi Đảng, để Đảng mua Súng Đạn, mua Xăng Nhớt, mua Biệt Thự, mua Sâm Cao Ly, mua Nhà Bắc Mỹ.
 
Một số đông những Cựu Tù Chính Trị Việt Nam, 28 năm sau ngày gãy súng, đã đánh mất lập trường và có người đánh mất cả liêm sĩ, quên nhìn gương những Cựu Tù Chính Trị Cuba, Bắc Hàn, Nga, BaLan v.v.... Trong lịch sử thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến, chưa có người Cựu Tù Chính Trị CuBa, Bắc Hà, Nga, Ba Lan trở về quê cũ để sống, để làm ăn hay chỉ thăm gia đình, nơi mà Cộng Sản còn cầm quyền. Họ chỉ trở về sau ngày tàn của Cộng Sản ở Đông Âu và bức tường Bá Linh bị dân Đông Đức đập bỏ, cũng như những guồng máy bạo quyền ở Đông Âu trở thành gạch vụn của quá khứ. Họ có thể tự hào nói với thế giới họ là những người không chấp nhận chủ thuyết Cộng Sản ở quê hương họ hay bất cứ nơi nào, và không thể nào trở về dưới gông cùm của kẻ thù. Có người Cựu Tù Chính Trị Việt Nam sẽ nói rằng:  “Tôi về quê hương, tôi không về với kẻ thù”. Đó là một thứ luận điệu ấu trĩ mà người Cựu Tù Cu Ba, Nga, Đông Đức không chấp nhận. Ông về thăm một xứ Cộng Sản, dù là quê cũ của ông, ông phải xin Cộng Sản chấp thuận đơn xin Visa của Ông, nghĩa là ông chấp nhận bạo quyền Cộng Sản, ông phải nộp tiền lệ phí xin Visa cho Đảng Cộng Sản, ông chi tiền máy bay để 10% từ đó đi vào túi Đảng. Dù ông không biết hay không muốn biết, ông đã trực tiếp hay gián tiếp nuôi cái Đảng Cướp ngày xưa muốn giết ông, đốt nhà ông, sát hại đồng ngũ của ông và có thể kể cả cướp người đàn bà trẻ ngày xưa là vợ của ông. Bây giờ ông về sống dưới bàn tay tên cướp đó, nhận nó là Chính Quyền của ông, đóng tiền nuôi cả nhà nó thì ông còn liêm sĩ hay không? Ông từng là Sĩ Quan,QLVNCH, từng là thành phần chính quyền VNCH, ông có đọc được bài học liêm sĩ từ những ngượi tù Chính Trị Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga Sô, Đông Đức không?
 
h. Chính Danh Dân Tộc:  Đây mới là chủ điểm trong học thuyết Chính Danh của Khổng Tử, bậc thầy của mọi suy tư luân lý Chính Trị. Chính Danh Dân Tộc là một nền tảng trên đó xây dựng mọi thứ Chính Danh khác như Chính Danh Cá Nhân, Chính Danh Văn Hoá, Chính Danh Chính Trị v.v…. Chính Danh Dân Tộc là nền móng một căn nhà trên đó có những cây cột để phân thành những Chính Danh phụ thuộc và nếu không có Chính Danh Dân Tộc, các nguyên tắc Chính Danh khác không có điểm tựa để tồn tại. Tại sao Chính Danh Dân Tộc quan trọng đến độ ấy?
 
Sự quan trọng của Chính Danh Dân Tộc tiềm tàng trong đời sống căn bản của mỗi người, vì không có cá nhân nào không thuộc vào một bộ lạc, một sắc dân, một xã hội, dù xã hội đó bán khai hay tân tiến. Cá Nhân là cây, Dân Tộc là rừng. Cá Nhân là Cá, Dân Tộc là Nước. Đó là tương quan vật lý, nhưng theo đó còn tồn tại tương quan tâm lý mà con người biết rằng mình không phải là một sinh vật lẻ loi mà tuỳ thuộc vào một tập thể trong đó có một lưu thông hai chiều:  Cá Nhân nhận ảnh hưởng của Tập Thể, và Tập Thể tạo nên Sức Mạnh từ nhiều Cá Nhân. Cùng trong sự lưu thông đó, Cá Nhân phải chia xẻ những vấn đề chung của Tập Thể, để được trở thành một thành phần cuả Tập Thể đó. Những Cá Nhân không chia xẻ các vấn đề chung của Tập Thể là những Cá Nhân lạc lỏng, bơ vơ, vô lương tâm hay đã bị Tập Thể đào thải. Cũng có những Cá Nhân tưởng mình không cần tới Tập Thể và muốn tự đào thải vì những quyền lợi đi ngược lại với quyền lợi của Tập Thể.
 
Dân Tộc ta quằn quại một trăm năm dưới gót giầy của thực dân, và ngất ngư hơn nửa thế kỷ trong gông cùm của loài ma quỉ đó. Quảng thời gian dài hầu như vô tận và đau thương đã làm cho Dân Việt gắn bó với nhau để chung sống, tồn tại, và vươn lên. Vì mọi Người Việt đều chia xẻ với nhau những thương đau của lịch sử, chúng ta đã có câu nói ngàn đời còn vang bên tai biểu lộ sự gắn bó này, đó là châm ngôn:  “Một Con Ngựa Đau, Cả Tàu Không Ăn Cỏ”. Châm ngôn đó nói lên một điều là không một Người Việt nào thấy đồng loại rơi vào thảm cảnh mà không mũi lòng, như một chuồng ngựa ngưng ăn chỉ vì một con ngã gục. Dưới Thời Bắc Thuộc, chúng ta chia cuộc sống khốn cùng của người bị ngoại thuộc, đến Thời Pháp dân ta cưu mang nhau để tìm ngày vùng dậy, lịch sử đã chứng minh. Ngày nay, khi 80 triệu người còn nghẹt thở trong Cơn Hồng Thủy ở quê nhà, chúng ta còn nhiều người thờ ơ đến độ vô liêm sĩ, vẫn chủ trương “Sống Chết Mặc Bay” vì gia đình mình còn may mắn. Họ biết chỉ họ may mắn là đủ, những người khác dù bất hạnh cũng không làm họ mũi lòng. Họ không có mối thù nào với Cộng Sản, vì họ cho rằng Cộng Sản chưa làm gì đụng đến cuộc sống của họ và gia đình. Gần 30 năm trước, khi lớp người vượt biển tìm tự do hy sinh mạng sống trên biển cả hay giữa vùng tử địa Cam Bốt, họ vẫn ung dung vì họ và gia đình họ đã thoát nạn, ung dung ở xứ người.
 
Một ngày đẹp trời nào đó, họ ung dung dẫn vợ con, họ hàng về Việt Nam chơi. Họ chơi cái gì Quý Vị thừa biết. Họ Đóng Cảnh “Áo Gấm Về Làng” để khoe những thành công gặt hái được nơi xứ lạ, vụ này cả nước đã nghe rồi. Nhưng một ngày đẹp trời nào khác, họ ung dung tìm một nơi ăn nhậu thật vui và dẫn nhau đi vào một Nhà Hàng Thái để ăn món lạ thay cho đồ Việt dùng hàng ngày. Ai không có Chính Danh Dân Tộc chắc hẳn sẽ ngồi thưởng thức những món ăn độc đáo của một tiệm Thái Lan, quên rằng 28 năm trước đó, đại hoạ lớn nhất cho Người Việt đi tìm tự do trên biển cả chính là Người Thái, những Ngư Phủ dã thú đội lốt người, hoành hành trên vùng Biển Đông chờ những con thuyền ọp ẹp trên đó đầy vàng và phụ nữ trẻ đẹp. Biết bao nhiêu thanh niên đã bỏ xác dưới biển, biết bao trẻ em bị quăng xác xuống làm mồi cho cá, biết bao phụ nữ Việt Nam chịu nhục nhã dưới bàn tay sát nhân của Ngư Phủ Thái, và chính họ, sau khi tấm thân bị nhơ nhuốc vì bọn Ngư Phủ Hải Tặc, cũng bị ném xuống biển, hay chồng họ bị mã tấu chém ngang cổ vì ra tay bảo vệ vợ con. Ngày nay, Người Việt thản nhiên ngồi nuốt đồ ăn Thái, quên đi những cực hình bi thảm của Dân Tộc ta trong những ngày dài của 10 năm dân ta chập chờn giữa cảnh chín chết một sống ở Biển Đông mà Ngư Phủ Thái là thủ phạm. Hồi đó, chính dân Thái làm ngơ cho Ngư Phủ Thái hoành hành, chính quyền Thái nhắm mắt cho hải tặc hốt của và hiếp gái Việt, trả thù món nợ lịch sử gần một ngàn năm trước. Đến Sư Sãi Người Thái cũng lặng thinh, không cần biết đến thảm cảnh Biển Đông mà dân Thái, mặc dù tự xưng là con Phật, đòi nợ máu Dân Việt Tị Nạn.
 
Nếu suy rộng ra, Chính Danh Dân Tộc là một tổng hợp của lịch sử, của Văn Hoá, của các truyền thống, và của mọi sắc thái dân tộc tính. Vì không có Chính Danh Dân Tộc nên mới có Người Việt theo Cộng Sản và đổi Dân Tộc thành Đảng Tộc, coi Các-Mác là Tổ Tiên. Vì không có Chính Danh Dân Tộc nên mới có Chủ Thuyết Ngoại Lai du nhập vào xứ sở đổi con Người Việt Nam thành Mác-Xít, thành Hippi, thành Đợt Sống Mới, thành Hiện Sinh, thành Đệ Tam, Đệ Tứ Quốc Tế, thành Cao Bồi, thành Henry, John, Ronald, Mary, Jean, Elizabeth, thành đủ thứ lai căng, mất gốc, nhi nhô, ngoại nhập, nửa đực nửa cái không ra thể thống gì. Có người mất Chính Danh Dân Tộc còn cố biện bạch và vin vào Tôn Giáo để bào chữa. Một ông ở Cali vừa tạ thế, con cái đăng cáo phó cho cha mới khuất là Nguyễn ..., “Thánh danh Robert”. Xin Quý Vị coi lại thánh kinh xem có vị thánh nào tên “Robert” không. Đây chỉ là một trường hợp điển hình của những Bộ Óc Vọng Ngoại đi ngược lại nguyên tắc Chính Danh Dân Tộc nhan nhản trong Tập Thể Người Việt ở Hải Ngoại. Nhiều vị phụ huynh đánh mất Chính Danh Dân Tộc, hồ hởi đặt tên con theo tiếng Mỹ, cho con cái nói tiếng Anh trong nhà để mau trở thành Mỹ. Đến khi con cái hư hỏng, đối xử tệ bạc với cha mẹ thì mới biết rằng nó sống theo lối Mỹ và lúc đó thì đã muộn.
 
C. Kim Chỉ Nam Chính Danh:
 
Đã ba thập niên qua rồi, lịch sử thế giới đã chứng tỏ được sự thật và những huyền thoại về Cuộc Chiến Việt Nam, một cuộc chiến chính đáng và hợp đạo đức con người, trừ khía cạnh của Người Cộng Sản. Người Việt Tị Nạn, nhất là những người đã từng nếm mùi trong các trại khổ sai sau tháng 4/1975 đã mang được tiếng nói Chính Nghĩa. Chính Danh trải khắp Bốn Biển, Năm Châu để thức tỉnh lương tâm thế giới. Ngay cả một số Nhà Văn, Nhà Báo, Học Giả Ngoại Quốc trước đây từng ủng hộ Hà Nội cũng đã sám hối, tiếp tay tuyên dương thế đứng Chính Danh của Người Việt Hải Ngoại. Nhưng bên trong tập thể chúng ta, một số người vì u tối, vì quyền lợi, vì tình cảm, đã cố tình hay vô ý thức đánh mất Chính Danh, từ Chính Danh Cá Nhân, Chính Danh Tập Thể, tới Chính Danh Văn Hoá, Chính Danh Chính Trị, và Chính Nghĩa của Đại Đa Số Người Việt.
 
Chính Danh, học thuyết từng chứa đầy trong hàng ngàn cuốn sách, hàng triệu bài viết, từng chi phối hàng ngũ Chính Trị gia từ thời nước Tàu lập quốc và qua những thời đại mới sau này, không thể được diễn tả đầy đủ trong mấy trang báo nhỏ. Dù sao, nó vẫn là Kim Chỉ Nam cho mọi cuộc tranh đấu, Khuôn Vàng Thước Ngọc cho mọi bàn tay cầm vận nước hay vận mệnh một Tập Thể, một Phong Trào Tranh Đấu Văn Hoá, Chính Trị như cuộc tranh đấu của Người Việt Hải Ngoại trong ván bài của lịch sử hiện nay. Niềm đau mất nước sau cuộc chiến vẫn là niềm đau không nguôi chung của hai triệu người bỏ xứ ra đi và hơn 80 triệu dân còn mất tự do dưới chế độ mọi rợ của những người cầm quyền xuất xứ từ hang Pắc Bó. Niềm đau ấy theo thời gian vẫn tăng cường độ cho một người còn nuôi Chính Danh và chung thuỷ với dân tộc tính, nhưng sẽ phai lạt dần với những người đã đánh mất Chính Danh dù Cá Nhân hay Tập Thể. Lớp người này tuy mang hình dáng Con Người, nhưng cuộc sống của họ là lằn da con Cắc Kè ở bờ dậu, thấy lợi là Đổi Màu.
 
Giữa cảnh xuân sắp sang lần thứ 34 ở quê người, tôi chỉ xin gửi tới Quý Vị lá thư Chính Danh để cùng suy ngẫm, không phải để mua vui, mà để chúng ta Cùng Sám Hối với Tổ Tiên, với Đất Nước, nhất là đối với những Người Đã Nằm Xuống vì Chính Nghĩa và Chính Danh. Dù là Anh Lính không cấp bậc, anh Dân Vệ mộc mạc ở xóm làng, hay một Người Dân không tên tuổi, những Người Nằm Xuống vì Chính Danh vẫn là những Người Hùng, những Kẻ Sĩ thực sự đóng được vai trò Kẻ Sĩ của Luân Lý, của Đạo Đức, của Chủ Nghĩa Quốc Gia, của Chính Nghĩa và Chính Danh. Chính Danh đi đôi với Chính Nghĩa, và chỉ khi nào chúng ta giữ được Chính Danh, chúng ta mới nắm trong tay chìa khoá để chiến thắng Cộng Sản.

Sĩ Tỉnh - Ha Uy Di 2008

 

  • Chú thích TinParis.

Xin mời quý đọc giả đọc tiếp bài " Chính Danh " đăng ở phần Tham Luận , Xin bấm vào  đây ==> " Chính Danh "

HIỆN TƯỢNG SÁM HỐI CỦA NHỮNG THẰNG NGƯỜI CÓ ĐUÔI!  

- NGUYỄN THIẾU NHẪN -        
 

Trong bài “Hiện tượng sám hối”, Mặc Lâm, biên tập viên đài RFA đã phỏng vấn nhà văn, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo về hiện tượng những lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
 
Theo nhà văn Trần Mạnh Hảo thì:

“Ông Phó Thủ Tướng Trần Phương là một người cũng đã tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ Tướng nhưng khi các ông ngồi lại để góp  ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì đến khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng Đảng Cộng Sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ,không biết sám hối”.
 
Thực ra, không phải tới bây giờ mới có những nhận xét “động trời” này! Những chuyện “Đảng CSVN” nói dối không biết ngượng miệng đã xảy ra từ thời con trăn miền Bắc chưa nuốt trọn con nai miền Nam rồi bị bội thực “xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường” cho tới nay.
 
Trước ông Phó Thủ Tướng Trần Phương rất lâu, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người cộng sản gạo cội, con cưng một thời của Đảng CSVN đã phải nhận xét rằng người Cộng Sản bị phân đôi: 
 
“Ngồi với nhau thì trao đổi chân thật, thì nói một đàng; mà khi họp lại bàn bạc, viết lên báo chí thì lại nói một nẻo. Trong mỗi người Cộng Sản có hai con người: con người thật và con người giả. Làm sao có thể xây dựng một xã hội mới với những con người giả. Làm sao có thể xây dựng một cái gì tốt đẹp và bền vững trên một nền tảng giả?”
 
Nhận xét của “ông bác sĩ cộng sản” Nguyễn Khắc Viện đem áp dụng vào “ông nhà thơ cộng sản” Tố Hữu thì không sai một chút nào: Chính ông ta đã là người đã làm cho bao nhiêu cuộc đời của những văn nghệ sĩ dính líu vào vụ Nhân văn – Giai phẩm bị “rạn vỡ. bị ruồng bỏ và bị lưu đày”; nhưng về cuối đời thì ông ta lại nói những lời “nhân nghĩa bà Tú Đễ” khiến ai nghe cũng muốn ứa gan và khinh bỉ về chuyện nói láo trắng trợn không biết ngượng của một kẻ đã từng “hét ra lửa, mửa ra khói” đối với những trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu miền Bắc.
 
Không ai tố cáo chồng chính xác bằng vợ. Người cộng sản tố cáo người cộng sản thì chắc chắn phải là sự thật. Ông Bùi Quang Triết, tức cố nhà văn Xuân Vũ là người miền Nam tập kết ra Bắc, sau khi thấy rõ mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa do “Bác” Hồ xây dựng, nhà văn bèn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Ông nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ khi định cư tại Hoa Kỳ đã viết về những nạn nhân của nhà thơ Tố Hữu, người đã từng làm Phó Thủ Tướng của nước Cộng Hoà Xã Nghĩa Việt Nam như sau:
 
“… Ai cũng biết ở miền Bắc có hai nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ bị tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu – vận động trí thức Pháp và trí thức nước ta chăng?). Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo: “Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao? Cụ bảo: “Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hegel (không phải Angels) ra làm duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời dù có sai cũng chẳng hại ai, còn duy vật đem ra dùng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít). Chỉ vài hôm sau, cụ qua đời.  

Ai cũng biết Nhóm Nhân văn – Giai phẩm gồm toàn văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộc đi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ướt chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.
 
Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?
Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức là trả lời vậy.
 
  Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: “Bây giờ tôi không còn sợ gì nữa. Tôi cứ nói…. Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác được gì”.
 
Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về âm nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải là hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của đảng Cộng sản, chớ không thay đồi thái độ với nó kể từ khi họ bắt đầu “ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với CS bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

Khi đọc những bài tường thuật về các buổi nói chuyện của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất của Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính quê hương mình. Phải biết rằng chính cụ cũng mê Mác-xít khi còn ở Paris nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài xã hội chủ nghĩa cứ tưởng nó là thiên đường. Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang, miệng dọc ra sao. Chừng đó có muốn thối lui cũng không được. Phải dũng cảm ghê gớm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác-xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó. Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra được mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xô bị bịp trên 70 năm?
 
Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy chủ nghĩa Mác nó kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì. Bởi vì như Nguyễn Chí Thiện nói (đại ý):
 
So với Đảng thì móng vuốt Thực dân êm dịu gấp 10 lần!”

Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình.
… Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh đều tuyệt vời, tin rằngLiên Xô là số dách. Nay thì dân chúng đã thấy rõ giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm). 
 
Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa Cộng sản chỉ là một sự ngu xuẫn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ nay cũng không hiểu nó là cái gì…”

*
  
Nhà thơ cộng sản Tố Hữu đã chết!
 
Nhà văn Xuân Vũ  “tay trót nhúng chàm” theo cộng sản – như lời  tự thú  của ông, sau đó đã từ bỏ thiên đường cộng sản, đã chết!
 
Những người trong nhóm Nhân Văn – Giai phẩm mà cuộc đời của họ đã bị ông Tố Hữu làm cho “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” cũng đã chết!
 
Bi thảm nhất là cái chết của ông Nguyễn Hữu Đang, kẻ đã dựng lễ đài để ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn. Cả cuộc đời của ông đã bị trù dập đến tận cùng bằng số: “nhà” của ông là một lõm sâu bằng thân mình ông cạnh một khóm tre làng, cứ như là một huyệt mộ của ông ngay khi còn sống. Sinh kế của ông là mỗi ngày đi nhặt các bao thuốc để đổi cóc, nhái từ bọn trẻ con trong làng. Và ông đã sống như thế cho đến khi nhắm mắt lìa đời.
 
 Viết đến đây tôi cảm thấy tim mình đau nhói.
 
“Tôi không biết khóc bao giờ  
Mà sao giọt lệ ấm bờ mi thâm?
 
- nói theo cách nói của một nhà thơ nào mà tôi đã quên tên.
   
Những người trí thức, những văn nghệ sĩ của chế độ, đã góp phần xây dựng chế độ ngay từ đầu mà còn bị ruồng bỏ, bị trừng phạt thê thảm, khủng khiếp đến như thế thì còn nói gì đến những người đã từng đối đầu với chế độ!

*

Hình như nói dối là cái “gen” di truyền từ ông Hồ Chí Minh đến các lãnh tụ thừa kế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
   
Người thừa kế xuất sắc cái “gen” nói dối di truyền của “Bác” Hồ là nhà thơ Tố Hữu – nói dối không biết ngượng miệng, nói dối  không chớp mắt, nói dối cứ như thiệt!

Cái “gen” nói dối của “Bác” Hồ, của cố Phó Thủ Tướng Tố Hữu đang di truyền qua thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chủ tỊch nước Trương Tấn Sang và tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
 
Ông nói chống tham nhũng thì lại là Vua Tham Nhũng!

Ông thì tuyên bố “trừ sâu trong nồi canh”; nhưng chắc chắn là sẽ có hàng trăm bầy sâu do ông ta… đẻ ra vì ông ta là Vua Sâu Bọ!
 
Và ông Tổng bí thư Mạc Phú Trọng thì lúc nào cũng lăm le tự trói tay, trói chân quỳ lết đem giang san gấm vóc của tổ tiên đem dâng cho giặc phương Bắc để giữ vững ngai vàng!
 
  
NGUYỄN THIẾU NHẪN
 http://nguyenthieunhan.wordpress.com

Tài liệu tham khảo:
 
- “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ”, tiểu luận của Nguyễn Việt Nữ.
  - “Thằng Người Có Đuôi”  một truyện ngắn viết về Trường Chinh (?) cố Tổng Bí Thư CSVN của nhà văn Thế Giang.

Cảm Ơn Đời

On Thursday, November 23, 2017 8:57 AM, "TonNuHoangHoa goinhau2000@yahoo.com [GoiDan]" <GoiDan@yahoogroups.com> wrote:



 
Cảm Ơn Đời
Tôn Nữ Hoàng Hoa
 
Mỗi lần gần đến lễ Tạ Ơn  là tôi nghe trong tôi nỗi bồi hồi xúc động, nhớ lại thời còn ở nhà với ba mẹ, rồi tự gần đó những lời độc thoại vang lên , vô cùng lạc lỏng trong tận cùng tâm tư và cứ thế niềm cô đơn trên cuộc đấu tranh chống CS tại hải ngoại lại lớn dần khi ngoài kia bóng chiều đang đổ xuống.
Trong ốc đảo cô đơn đó,  tôi đã thấy được rõ ràng cái ý nghĩa phi lý của cuộc đời đối diện. Trong hiện tại, có phải tham gia bất cứ sinh hoạt nào trong xã hội thì bao giờ cũng phải đứng vào tư thế hoai nghi?
Mọi người hầu như ai ai cũng hoài nghi, cũng e ngại. Đôi lúc hoài nghi với mình, với tập thể. Vì thế đương nhiên sự tương quan giữa người và người, giữa người và xã hội chẳng khác nào như những diễn viên trên sân khấu đời.
Thật thà mà nói,  tại sao con người sinh hoạt vô vụ lợi trong cộng đồng thường mang cái nỗi hoài nghi. Có lẽ những ai đã từng vác ngà voi trong một vài sinh hoạt thì không lạ gì cái cảnh hôm nay là bạn, mai là thù . Rồi cứ thế, những trò phản phúc chém sau lưng chiến sĩ xảy ra hằng ngày
Trong chuyện Tầu nhân vật Lữ Bố là một tên phản phúc nỗi tiếng trong thời Tam Quốc Chí
 Lữ Bố tự là Phụng Tiên, là tướng nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc.
Lữ  Bố người đất Cửu Nguyên, huyện Ngũ Nguyên thuộc Tinh châu (nay là thành phố Bao Đầu). Ông được biết đến  qua tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Trong tiểu thuyết này, Lữ Bố xuất hiện như một tướng tài. Trên chiến trường, ông chuyên sử dụng phương thiên họa kích và cưỡi Ngựa Xích Thố, như một mãnh hổ tả xung hữu đột, vạn người không địch nổi. Nhưng vì qua những lần phản phúc vô ơn đã không còn ai tín nhiệm nữa
Năm 189, Hán Linh Đế qua đời, con là Hán Thiếu Đế Lưu Biện lên nối ngôi. Ngoại thích Hà Tiến mưu trừ hoạn quan chuyên quyền, bèn triệu tập quân các trấn. Đinh Nguyên theo lệnh dẫn quân đến Lạc Dương, Lữ Bố đi theo Định Nguyên và sau đó Định Nguyên nhận Lữ Bố làm con nuôi .
Khi  Hà Tiến bị hoạn quan giết, Một tướng khác thay thê Hà Tiến là Đổng Trác cũng tiến vào Lạc Dương, tranh chấp quyền lực với Viên Thiệu . Viên Thiệu yếu thế phải bỏ chạy còn Đinh Nguyên dàn quân chống lại. Trong trận này Lữ Bố đã thể hiện mình là hạng tướng dũng mãnh vô song, đánh tan quân đội Đổng Trác và làm Đổng Trác kinh hoảng phải tế ngựa bỏ chạy. Sau trận đó,  Đổng Trác đã họp bàn với các mưu sĩ của mình với ý định chiêu mộ Lữ Bố. Lữ Bố nhận lời, nhân lúc Đinh Nguyên tin tưởng mình,  không phòng bị nên đã bị Lữ Bố ra tay hạ sát giết chết Định Nguyên là cha nuôi của mình rồi mang toàn quân về hàng Đổng Trác.
Đổng Trác nhận Lữ Bố làm con nuôi và bổ nhiệm làm Kị đô úy. Ông trở thành người phục vụ đắc lực cho Đổng Trác.
Nhờ sức khỏe hơn người, giỏi võ nghệ và cung tên, ông được mọi người gọi là Phi tướng quân. Sau đó ông được Đổng Trác phong làm Trung lang tướng, tước Đô đình hầu.
Viên Thiệu triệu tập chư hầu chống lại Đổng Trác.  Đổng Trác sai Lữ Bố và Hồ Chẩn ra đánh. Lữ Bố và Hồ Chẩn tỏ ra bất hòa với nhau, vì vậy bị Tôn Kiên đánh bại phải rút chạy về. Đổng Trác mang vua Hiến Đế bỏ Lạc Dương chạy vào Trường An, chỉ để bộ tướng Từ Anh và Ngưu Phụ ở lại chống giữ, còn Lữ Bố đi theo vào Trường An.
Sau đó,do Đổng Trác tàn bạo, giết nhiều người và kết oán với nhiều người nên những lúc xuất hành và nghỉ ngơi thường dùng Lữ Bố làm cận vệ. Viên Thiệu muốn dụ Lữ Bố về với mình nên dùng chiêu mỹ nhân kế Điêu Thuyền để ly gián cha con Đổng Trác-Lữ Bố. Trúng kế. Lữ Bố đã ra tay hạ sát Đổng Trác sau đó về hàng Tào Tháo nhưng Tào Tháo không tin dùng Lữ Bố vì đã là người một lần đã bất tín thì vạn lần chẳng có ai dám tin. Chính cái thói vong ân bội nghĩa đó là biểu tượng của Lữ Bố khi người ta đàm luận về những kẽ phản phúc.
Như mới đây trong chuyến công du Châu Á Tổng Thống Trump khi đến Trung Cộng đã can thiệp với Tập Cập Bình cho ba sinh viên chơi Baskettbal của trường ULCA. Đó là LiAngelo Ball, Cody Riley and Jalen Hill.. Cả ba người này đã bị Trung Cộng nhốt vào tù vì bị tội trộm cắp ở siêu thị (shoplifting) Sau khi TT Trump can thiệp với Tập Cập Bình ba người này được đưa về Mỹ Trên Airforce one của TT Trump
Có biết bao nhiêu người Mỹ bị bắt ở các nước ngoài mà trong thời tiền nhiệm có ai can thiệp cho họ về nước không? Ngay cả Otto Warmbier khi bị Bắc Hàn tuyên án 15 năm và bị đánh đập tàn bạo ở Bắc Hàn mà cũng không ai can thiệp. Đến khi TT Trump nhậm chức đã can thiệp cho Otto về nước nhưng than ôi! đã nếm mùi lao tù Cộng Sản nhất là thứ cộng sản tàn bạo như Bắc Hàn thì khi Otto về nước chỉ còn là cái xác không hồn
Trước hình ảnh thương tâm của Otto TT Trump đã dùng quyền lực của một vị TT từ tâm khi nghĩ đến viễn ảnh tương lai của ba sinh viên chơi Baskettball ở ULCA bị tù ở Trung Cộng nên đã can thiệp để đưa cả ba sinh viên về nước Mỹ bằng Air Force riêng của mình. Hình ảnh bao che như một người cha ra sức bảo vệ cho con cháu, chịu lây sự nhục nhã trộm cắp của họ để đưa về xứ sở trong tinh thần bảo vệ con dân của mình. Ấy thế mà khi con của mình được về nước thì cha của LiAngelo Ball đã vong ân bội nghĩa đã không biết cảm ơn vị TT đã cứu con mình ra khỏi ngục lại còn lên tiếng chê bai phản phúc
Trong xã hội loài người chuyện phản phúc vong ân bội nghĩa xẩy ra hằng ngày. Nhưng sự vong ân bội nghĩa của  LaVar Ball đã không tỏ ra biết ơn người cứu mạng con mình là LiAngelo Ball lại còn ra lời phỉ báng trong khi cả 3 người đã hết lời cảm ơn TT Trump.
Hành động phản phúc vô ơn của LaVar Ball đã được các cơ quan truyền thông phe tả khai thác để hạ bệ Trump. Muốn hạ bệ kẽ khác để đưa mình lên cao bằng những lời phỉ báng là đã tự mình hạ thấp mình trên khuôn mặt vong ân bội nghĩa.
Không biết mấy ông bình loạn người Mỹ gốc Việt tại các cơ quan truyền thông lá cãi đã có ông nào nhận tiền cánh tả để hùa vào chuyện vong ân bội nghĩa này không? Cho dù có hay không thì qúi ông đã mang bộ mặt vong ân bội nghĩa lâu rồi.
Hành động vong ân bội nghĩa của LaVar Ball đã cho dân chúng Hoa Kỳ thấy được cái giá trị làm người của ông ta thật uổng vì ở đó còn thấp hơn giá trị của loài súc vật
Vì lẽ đó, giá trị của Ngày Lễ Tạ Ơn hôm nay để nhắc nhở con người phải biết ơn đời, ơn người mới làm thăng hoa được cuộc sống tinh thần của mình hầu làm thăng tiến cuộc sống trong xã hội.
 
HAPPY THANKSGIVING TO ALL
Tôn Nữ Hoàng Hoa
23/11/2017
Điểm mặt tên VC đang hoạt động tại Mỹ
Author: Nang Van Le Posted on: 2017-11-19
AI ĐƯA TÊN vc NẦY QUA MỸ?
Dựa vào hình ảnh làm cơ sở, những ai con nghi ngờ và muốn biết rõ ràng hơn, thì chỉ cần hỏi cựu đại sứ Mỹ Ted Osius và ngoại trưởng Kerry,  trong nhiệm kỳ vừa qua.

 

Những hình ảnh của trung tá VC Phạm Anh
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, mũ và văn bản
Trong hình ảnh có thể có: 13 người, mọi người đang cười, văn bản
Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang cười, văn bản

 

Nang Van Le
nangvanl@aol.com

Darkness at Noon / BÓNG TỐI GIỮA TRƯA  -     BÙI DIỄM  

- Ls Nguyễn văn Chức - 


    
    Trong quyển TERRIBLES TSARINES  ,văn hào Henry Troyat (Hàn Lâm Viện Pháp)  kể truyện những anh  hề dươi thời Nữ Hoàng  Nga Anna Petrovna. Có anh  kẻ lông mày,môi son má phấn mặc váy nhảy múa trước mặt nữ hoàng, Có anh mỗi buổi sáng đi bằng đầu gối, đến hôn chân Nử Hoàng lúc đó chưa thức giấc.   Tất cả những trò hề đó chỉ nhằm một mục đích: làm cho nữ hoàng cười và ban  ân sủng. Anh  hề  nổi tiếng nhất,  làm đẹp lòng nữ hoàng nhất, và được lịch sử nhắc đến nhiều nhất ,  có tên là  Balakirev .
    Balakirev làm  hề, nhưng không gian manh.

  •     Bùi Diễm thì khác, vừa làm hề vừa gian manh. Tất cả  để  làm đẹp lòng bọn chó đẻ Việt Cộng cờ đỏ sao vàng.

Hồ sơ của Bùi Diễm  dầy cộm.  Cái  gọi là "Bản Khẳng Định Lập Trường Cuả Người Việt Trên Toàn Cầu Về Hai Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa" ngày 07 tháng 12 /2007  chỉ là giọt nước làm tràn cái ly.
     
    Ngày 30 / 6/ 1992, môt Hội Nghị Thế Giới Người Việt Tự Do  được tổ chức tại hội trường của đại học George Mason, Fairfax, Virginia.  Ban tỗ  chức gồm  Bùi Diễm, Nguyẽn Ngọc  Bich, Trân Văn Kiện, Nguyẽn Hải Bình, Mary Chi Ray.
Hội thảo viên đếm được khoảng 50 nguời. Mỗi người được biếu một tập chương trình có in  cờ đỏ sao vàng của bọn chó đẻ Việt Cộng.

    Ngày 12 & 13 tháng 11/ 2004,  tiến sỉ Hans Stockton, đại học ST Thomas , Houston, mở cuộc hội thảo "Looking ahead to Vietnam Future& Globa Integration". Có Bùi Tín, Lê Xuân Khoa,Nguyẽn Xuân Phong, Ong Thuy Ngoc ,Nông duy Trường và Bùi Diễm.

      Ngày 11  tháng 12 / 2004 , Cộng Đồng Người Viêt Tỵ Nạn tại Frankfurt (Đức Quốc)  tổ chức  hội thảo về "Chính sách đối ngoại của Mỹ  trong nhiệm kỳ 2 của TT Bush". Bùi Diễm được mời đến diễn thuyết. Bùi Diễm đòi  hội  trường khộng  được treo lá cớ vàng ba sọc của Người Việt Quóc Gia .

      Ngày 9, 10, 11, 12 tháng 9 /2005, Hoàng Minh Chính được Việt Cộng cho  "sang Mỹ chữa bệnh". Môt cuộc Họp Mặt Dân Chủ  đã diễn ra tại Pali Mountain  Retreat & Conference Center, California. Có Nguyẽn Ngọc Bích, Bùi Tín,  mấy tên  tay sai Việt Công..  Và  Bùi Diễm.

       Ngày 1 tháng 11/ 2005 Nghị Hội Toàn Quóc Mỹ Việt nhóm họp tại khách sạn Double Tree gần phi trường San Jose để tiẽn đưa Hoàng Minh Chính trở về VN.  Có Bùi Diễm.

      Ngày 27  tháng 12/ 2007,  môt văn kiện  mang tên "Bản Khẳng Định Lập Trường Về Quần Đảo Trường Sa Và Quần Sa xuất hiện". Tác giả là Bùi Diễm.  Xin lỗi bạn đọc, tôi xin phép ngừng ỏ đây.  Những hành động trở cờ  và dốt nát  của Bùi Diễm nhiều lắm.

  • Cbúng ta không quên Đoàn Viết Hoạt  của đại học Thích Minh Châu tại Saigon ngày xưa .


        Tháng 4/1975, Việt Cộng tiếp thu Sàigòn. Đoàn Viết Hoạt cầm cờ đi đón ruớc. Không được Việt Cộng tin dùng, anh ta bất mãn, rồi bị Việt Cộng bắt giam. Rổi được Việt Cộng cho sang Mỹ thi hành nhiệm vụ mới.

         Tháng  12/2001, Nguyễn Tấn Dũng  sang Mỹ ăn mày.  Đoàn Viết Hoat  xuất hiện với "Một Trận Tuyến Mới Hình Thành".

         Ngày 16 tháng 12/2001 có lễ kỷ niệm cố Đảng Trường Đại Việt Trương Tử Anh tại khách sạn "Le Petit Trianon". Người ta lại thấy Đoàn Việt Hoạt trên diễn đàn. Y huênh hoang rằng y (nguyên văn) đang " cố gắng nội gót những Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lý Đông A"
Theo tôi, Đoàn Việt  vô liêm sỉ. Như Bùi Diễm. Nhưng có học hơn Bùi Diễm

Ờ trên,tôi có  nhắc tới  lời kêu gọi  ngày 26 tháng 4 /2009  của Bùi Diễm.

 Lời  kêu gọi này đã được thông qua tại hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương  Đảng Đại Việt Cách Mạng tại Colorado, Hoa Kỳ.
Lời kêu gọi ấy (nguyên văn) "thiết tha kêu gọi các tôn giáo, đoàn thể đấu tranh vì đại  nghĩa dân tộc hãy cố gắng kết hợp trong tình đoàn kết, cùng nhau góp sức trong công cuộc đấu tranh chung nhằm mục dích giải thể chế độ độc tài Cộng Sản, đem lại tự do nhân quyền  và công bằng xã hội cho quê huơng".

 Ôi  Bùi Diễm,   nói vậy mà không phải vậy. Ôi Bùi Diễm, kẻ đã được Hà Thúc Ký phong  cho làm Tổng Thư  Ký đảng Đại Việt Cách Mạng!
Và ôi Hà Thúc Ký !
.......

Bạn đọc ơi. Đừng trách tôi cố chấp. Tôi, môt Người Việt Tỵ Nạn CS, môt cựu luật sư, một cựu nghị sĩ Việt Nam Cộng Hòa, một kẻ đã  từng lên tiếng cho chính nghĩa Viẹt Nam tại nhiều diễn đàn IPU ( International Parlementary Union) trên thế giới.

Tôi muốn nói với những tay sai Việt Cộng, đặc biệt Bùi Diễm,Tổng Thư Ký đảng Đại Việt Cách Mạng:  đừng  làm trò hề nữa.

Houston, TX , Chủ Nhật 17/5 /2009
VIP KK Nguyễn văn Chức


     


 

  • Chú thích TinParis.


Trong bài viết của Kim Âu : " Các tổ chức ngụy hòa do Việt Cộng thành lập " đăng trên Tinparis ngày 17.06.2009 trong đó có đoạn

  • Trong buổi hội luận ngày 30 tháng 4, 09 do Đài Truyền hình SBTN tổ chức về vấn đề Hoàng Sa & Trường Sa và Bauxite ở Tây Nguyên, có một người nêu ra câu hỏi “nếu Trung cộng đánh Việt cộng, vị trí người Việt hải ngoại là gì?”


Ông Lê minh Nguyên nói rằng Việt cộng nay là vệ tinh của Trung cộng, nghĩa là VC và TC là một. Nguyễn tấn Dũng mới đây tại Hồng Kông nói rằng chủ trương của VC nhất quán với TC, và đó là một hàng thần. Với tinh thần này, người Việt hải ngoại phải chống cả VC. Trong khi đó, nhà báo Vi Anh nhấn mạnh rằng VC là kẻ mãi quốc cầu vinh. Chính VC là thủ phạm số 1, TC là thủ phạm số 2. Phải chống VC, vì chúng nguy hiểm hơn. Tiến sĩ Mai thanh Truyết có nhắc tới một số hội đoàn hải ngoại, đóng vai trò ngoại vi cho VC, làm như một hội nghị Diên Hồng đế chống TC. Đây là một chiêu thức độc đáo, khích động lòng yêu nước của người Việt hải ngoại, giúp chiêu dụ người hải ngoại, tiếp tay cho VC chống TC. Như thế bị là “sập hố”, và mắc bẫy được VC đưa ra trong NQ 36.Ban chỉ đạo Hội Luận hỏi ý kiến Đại sứ Bùi Diễm về vấn đề này. Ông này trả lời công khai: KHÔNG CÓ Ý KIẾN. Rồi đến phần được giáo phó trách nhiệm đúc kết buổi Hội Luận, Đại sứ Bùi Diễm chỉ nhắc đến việc chống TC {xâm lăng} mà thôi. Như thế có nghĩa là VC “vô can.”

TẠ ƠN TRỜI – TẠ ƠN… BÀ  

LÃO MÓC -        

 

 

Sông Dương Tử và sông Hoàng Hà là hai con sông lớn ở Trung bộ Trung Quốc. Đời nhà Đường, Trương Kiên được lệnh vua sai đi tìm nơi phát tích của sông Hoàng Hà. Trương Kiên và đoàn tùy tùng cứ ngược dòng đi mãi. Sau một thời gian khá dài với không biết là bao nhiêu gian lao vất vả, Trương và đoàn tùy tùng đối diện với một thác nước cao ngất không có cách gì vượt qua được. Từ dưới lòng sông nhìn lên, nước từ trên trời ào ào đổ xuống sông Hoàng Hà liên miên không dứt. Trương Kiên trở về tâu lên vua:

“Nước sông Hoàng Hà từ trên trời chảy xuống”.

Ai nấy đều tin như thế. Lý Bạch cũng tin như thế. Nhà thơ lấy điệu Cổ nhạc phủ làm bài Tương Tiến Tửu rất hay, lời lẽ vô cùng hào phóng. Tương Tiến Tửu là một bài hát mời rượu với lời mở đầu:

“Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi…”
(Ngươi chẳng thấy nước sông Hoàng Hà tự trên trời rơi xuống,
Chảy ra biển không bao giờ quay lại…)

Lão Móc rất khoái bài này, trong đó có nhiều câu đọc lên sướng tê cả người. Gặp những lúc trăng thanh gió mát, rảnh rang thế sự, ông Móc cũng khoái gật gù lon bia, tay trái cái râu khô mực; bà Móc có cằn nhằn thì ông Móc liền trích từ trong bài ấy ra vài câu để cãi chầy cãi cối.

*

Lão Trương Kiên đúng là một cái lão nói càn. Chịu khó trèo lên cái thác ấy, đi ngược lên nữa ông sẽ tìm gặp những con suối nhỏ góp nước cho cái thác vĩ đại đổ nước xuống sông Hoàng Hà.

-Chưa chắc đâu! Luận như ông Móc thế nó có vẻ thấp lắm. Những con suối ấy lấy nước ở đâu? Mưa! Nước mưa ở đâu rơi xuống? Dĩ nhiên là ở trên trời rơi xuống! Như vậy luận cho cùng, ông Trương Kiên nói đúng đấy chứ. Có khi đời không hiểu hết ý người xưa…

-Ừ! Thì có thể lắm. Nhưng dù sao đi nữa thì bài Tương Tiến Tửu vẫn bắt đầu bằng câu “Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai”, và vẫn hay. Uy Viễn tướng công đã từng:

“Gõ lấy nhịp, hát câu Tương Tiến Tửu”.

Sau mấy bài viết về cái gọi là hội thảo “tìm giải pháp hợp nhất cộng đồng” của ông Kiêm Ái, mọi người đều thấy rõ mấy anh kép hát của vở tuồng “Hợp nhất cộng đồng” đều bị ông Kiêm Ái tước bỏ áo mão phường tuồng.

Chuyện khôi hài nhất là có anh “bé óc, to mồm” có… chức Phó Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng NGƯỜI VIỆT/BC lại có “phát kiến động trời” là Lão Móc núp dưới tên của lão ông Vũ Đình Hậu để ca tụng Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Bắc California là CHÍNH DANH. …. Ấy chết! Thứ Năm tuần này là Lễ Tạ Ơn, sao Lão Móc lại đi nói chuyện bá láp làm phiền nhiều người như vậy nhỉ? Nhân Lễ Tạ Ơn, Liên Đoàn Gà Tây toàn quốc có tặng Tổng Thống Hoa Kỳ một con gà tây, và con gà tây này sẽ được Tổng Thống tha mạng, đem đi nuôi ở một chỗ khác theo truyền thống từ năm mươi mấy năm nay.

 

Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump tha tội cho con gà tây Lễ Tạ Ơn có tên Drumstick tại Vườn Hồng của Bạch Ốc tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn hôm 21-11-2017. Tổng Thống Trump vỗ lên con gà tây lớn cân nặng 36 pound và hỏi “chú mày sẵn sàng chưa, Drumstick – mày được tha tội bây giờ đây”. Đám đông chứng kiến tục lệ tha tội gà tây tại Bạch Ốc cùng cười vui. Từ mười tháng qua, Tổng Thống Trump đã ký sắc lệnh thu hồi một số chính sách của Tổng Thống tiền nhiệm – chính ông nhận là không thể bỏ lệnh tha tội gà tây. Ông xác nhận không thu hồi lệnh khoan hồng với hai con gà tây Tater và Tot được TT Obama tha tội trong năm qua, và theo lời ông, Drumstick có tương lai rất tươi sáng phía trước.

Vậy thì, theo truyền thống; trong những ngày này chúng ta cũng không nên nói gì đến các kép hát bị tước áo mão phường tuồng và những tên “bé óc, to mồm” theo truyền thống… gia đình!

*

-Nè ông Móc, mỗi khi lai rai mà bà Móc cằn nhằn thì ông làm sao?

-Còn làm sao nữa, thì đem bài Tương Tiến Tửu ra cãi chầy cãi cối!

-Làm thế thì bà ấy thôi cằn nhằn?

-Dĩ nhiên! Khi đàn ông giở chày, giở cối ra thì các bà sẽ nhường!

Hay nhỉ ? Thế ông cãi cối thế nào?

-Tôi sẽ đọc mấy câu:

“Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Quân bất kiến cao đường minh kính bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ như tuyết”.

Rồi tôi mượn lời dịch của cụ Trần Trọng Kim dịch cho bà ấy nghe, chỉ sửa chữ đầu tiên từ chữ “Anh” ra chữ “Bà”:

“Bà chẳng thấy Hoàng Hà nước nọ,
Tự trên trời chảy đổ ra khơi.
Ra khơi thôi thế là thôi,
Về nguồn trở lại có đời nào đâu.
Bà chẳng thấy nhà cao gương sáng,
Những buồn tênh vì mảng tóc thưa.
Sớm còn xanh mượt như tơ
Tối đà như tuyết bạc phơ bời bời…”

Bà ấy sẽ cảm thông rằng sự đời cũng như dòng nước chảy, thời gian qua rồi chả bao giờ tìm lại được, sớm tóc xanh, chiều tóc bạc. Em ơi có bao lâu, sáu mươi năm cuộc đời…  

-Nhưng nếu bà ấy lại nói rằng các ông cứ uống như thế sẽ không làm nên cơm cháo gì, lại hao tốn tiền bạc?

-Thì ta lại đọc tiếp:

“Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt.
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,
Thiên kim tán tận hoàn phục lai”.

Rồi sửa giọng ngâm nga cho bà ấy nghe:

Khi đắc ý cứ chơi cho phỉ,
Dưới vầng trăng đừng để chén không.
Có thân âu hẳn có dùng,
Ngàn vàng tiêu hết, lại hòng kiếm ra.

Ngâm như vậy tức là mình cho bà ấy biết rằng trời sinh ra tôi không làm Vương, làm Tướng được thì ít nhất tôi cũng cắt cho bà được cái sân cỏ; bà muốn coi phim Tàu thì đã có thằng già này lái xe đi mướn, bà muốn vừa coi phim vừa ăn gỏi đu đủ khô bò thì đã có thằng già này đi mua về. Miễn là khi tôi nhậu thì làm ơn “Dưới vầng trăng đừng để chén không”, có nghĩa là khi tôi vừa làm cạn ly đầy thì ngay tức khắc bà phải rót đầy ly cạn. Đừng có sợ tốn tiền, mai tôi lái xe đi làm là có tiền ngay!

-Chà! Ông nói nghe thông quá nhỉ? Nhưng nếu bà ấy mỉa mai là làm trai “phải có danh gì với núi sông”. Cứ nhậu như ông thì đời sau ai biết tới thì mình nói sao?

-Dễ lắm! Đọc cho bà ấy nghe ông Lý Bạch nói:

“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh”.
Bao thánh hiền xưa kia lặng lẽ,
Chỉ anh say để tiếng đời đời.

-Cũng có lý. Nhưng bà ấy là người nắm hầu bao. Tiền bạc bao nhiêu bà ấy giữ hết. Bả không đưa tiền ra thì lấy đâu mà nhậu, ông Móc?

-Đừng có lo!:

“Chủ nhân hà ngôn vi thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mã, thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu.
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu”.
Chủ nhân hỡi, chớ e tiền ít,
Mua rượu về chén tít cùng ta
Cừu thiên kim, ngựa ngũ hoa
Đem đi đổi rượu khề khà uống chơi
Sầu đâu vằng vặc muôn đời

Đời nay không có áo cừu đáng giá ngàn vàng, không có ngựa ngũ hoa quý giá; nhưng cái áo da dê Đại Hàn ông đang mặc cũng đáng giá bạc trăm, chiếc xe ông đang chạy cũng đáng giá bạc ngàn. Bảo thằng con đem đi gán cho chủ tiệm là tha hồ mà say. Ông với tôi uống cho tiêu hết cái vạn cổ sầu!

-Ông nói phải! Nhưng tôi nói tự nảy giờ là trong trường hợp bà xã bả ưa cằn nhằn. Còn nếu mình vừa mở mồm nói: “Bà nó ơi, hôm nay lễ Tạ Ơn, bà mua cái gì về cho tôi và ông Móc đánh chén nhé!” thì bà ấy đáp ngọt ngào: “Vâng!” Gặp trường hợp ấy thì làm sao?

-Còn làm sao nữa. Thì bàn tiệc dọn xong, ông làm lễ Tạ Ơn Trời, nhân thể Tạ Ơn… Bà!

 

LÃO MÓC

KHI NHỮNG CÂY BÚT ĐÃ KHÔ MỰC

Author: Tôn Nữ Hoàng Hoa Posted on: 2017-11-18
Đối với những nhà bình loạn thời sự hiện nay trên các diễn đàn thông tin VN ở Hải ngoại, độc giả đã nhìn thấy phần nào tư tưởng thiên tả của họ trên sự chống phá TT Trump theo truyền thông thiên tả của Mỹ cũng như lập lại những fake news mà các cơ quan truyền thông thiên tả của Mỹ được nhóm tài phiệt thiên tả tài trợ trên mục tiêu chính trị của Đảng CS Hoa Kỳ, muốn thay đổi Hiến Pháp để đảng CS USA được tham gia vào các dòng chính của Hoa Kỳ, Chúng tôi cũng như một số cây bút không tự cho mình là các nhà bình luận mà chỉ là những người viết nhiệt tình nói lên tinh thần chống CSVN và chủ nghĩa cộng sản hầu góp một bàn tay vào sự ngăn chận đảng Cộng Sản Hoa Kỳ xâm nhập vào chính quyền tại đây.
Có một điều làm chúng tôi sững sờ, kinh ngạc là những nhà bình loạn đó cùng một thân phận tỵ nạn , cùng một quá khứ với chúng tôi nhưng tai sao lại phải cặm cụi làm thân con ngựa già lê lết lạc lỏng trên cuộc hành trình Chống Cộng Sản của Tập Thể Người Việt Tỵ nạn CS tại hải ngoại (TTNVTNCSHN). Trước hết, chính họ là những người đang tiếp nhận quyền lợi tỵ nạn của đất nước này. Một tay nhận bát cơm của người ta để sống một tay khác lại phản phúc đánh phá một vị Nguyên Thủ Quốc Gia của nước này. Thật ra thì bài vở đánh phá TT Trump của họ như một hạt cát trong biển. Nhưng có lẽ họ cần phải có công tác lý luận phản phúc đó chẳng qua cũng vì quyền lợi cá nhân? Được bao nhiêu? có chăng cũng chỉ giá trị bằng một bát phở ban mai hay một vài xu cho một làn khói trắng !
Như chúng tôi đôi lần đã thưa cùng qúi vị về sự thắng cử của TT Trump là một mối đe doạ cho Đảng CS Hoa Kỳ. Trong một bài viết ở website: http://www.cpusa.org/interact_cpusa/why-does-the-cpusa-support-democratic-party-candidates-for-the-presidency-instead-of-running-their-own-candidates/ của Đảng CS Hoa Kỳ cho biết: Họ đang trên đường hoạt động với các đồng minh trong những phong trào lao động, các quyền của những người nhập cư, các quyền dân sự, môi trường và các tổ chức của phụ nữ, LGBTQ, ( Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, Queer/Questioning) để vận động cho ứng cử viên Hillary Clinton đảng Dân Chủ, Nhưng khi TT Trump thắng cử thì chương trình Hoạt động của TT Trump (Trump’s Agenda) đã là một mối đe doạ cho Đảng CS Tại Hoa Kỳ. Cũng mới đây qúi vị đã nhìn thấy sự phá rối của nhóm Black Lives Matter bằng những cuộc xuống đường rầm rộ do tên CS gộc George Soros tài trợ tiền bạc hầu đạp đổ nền dân chủ độc lập của Hoa Kỳ có trên 210 năm để thay vào đó những "anh hùng vô sản" của chúng hay táo bạo hơn nữa là chúng đã biểu tình trước Trump Tower ở New York nhất quyết đòi xé nát lá cờ của Mỹ. Nhóm này nhân danh là ĐẢNG CÁCH MẠNG CỘNG SẢN HOA KỲ (REVOLUTION COMMUNIST PARTY hay là REVCOM.US) theo website https://www.snopes.com/politics/conspiracy/revcom.asp
Thật ra, các nhà bình loạn cho Trump đi Apec đem về bạc cắc hay được món hàng gì chỉ là ý kiến của cá nhân qúi vị trong một nước Dân Chủ Đa Nguyên như ở Hoa Kỳ. Nhưng những bài bình loạn đó, quí vị đã lấy từ Fake News của truyền thông cánh Tả . Chúng tôi đã chứng minh những bạo động đang xảy ra tại Hoa Kỳ hôm nay đều do một tay của đảng CS Hoa Kỳ dàn dựng với sự phối hợp của phần đông dân biểu nghị sĩ của Đảng Dân Chủ mà CS Hoa Kỳ đã móc nối.
Không lẽ qúi vi là những người văn hay, chữ tốt, kiến thức cao rộng mà lại đi nghêu ngao ba cái tin thất thiệt do bọn truyền thông cánh Tả tung ra ?
Đương nhiên khi đọc bài "ủng hộ cánh Tả" của qúi vị cũng có người đồng quan điểm thì vỗ tay nhưng trên điễn hình thực tế của một tư cách tỵ nạn CS thì cũng lắm người không thích trước cái lăng ba vi bộ thiếu đạo đức của qúi vị. Đa số người tỵ nạn cs trên các diễn đàn đã mỉa mai châm biếm qúi vị thiếu đường họ đã văng tục nhưng hình như qúi vị cũng chưa nhận ra vai trò của mình lại còn lớn tiếng lên giọng kẽ cả nên càng ngày càng phách tấu phách tá một cách hợm hĩnh trên những ngòi bút đã khô mực từ lâu. Sự qui kết quá vội vàng của qúi vị cũng như sự suy diễn một chiều của qúi vị có tính cách áp đặt đã không được phần đông người dân tỵ nạn CS tại hải ngoại đồng thuận. Qúi vị đã đi quá xa sự thật, tức là sẽ đi ngược chiều, nói tiếng nói ngược tai thì bao giờ cũng chỉ là những tiếng nói lẽ loi, đơn đôc.
Không lẽ qúi vị dùng ngòi bút đã khô để thể hiện một hình thức khao khát của mình? để thoả mãn những cơn khát của mình bằng những ngụm nước trong ao tù nước đọng thiếu vệ sinh. Có phải qúi vị đã uống nước thiếu vệ sinh, lại nuốt vội vàng vì thế vi trùng từ những ngụm nước kia đã thấm vào óc để phát sinh ra những bài viết lạc lỏng ? Có bao giờ qúi vị tự mình thất thểu đi tìm chính mình đã lạc lỏng ở xó xỉnh nào không? nếu chưa tìm ra mình thì hãy mau mau tham gia vào chương trình đòi truất phế TT Trump do 5 tên Dân Cử của Đảng Dân Chủ đang bày ra, Đó là những tên Al Green, Steve Cohen, Luis Gutierrez, Marcia Fudge, John Yarmuth và Adriano Espaillat, cùng bước đi theo những mong muốn của Nancy Pelosi và Whip Steny Hoyer. Thêm vào đó, một tên tài phiệt cánh tả Tom Steyer mới đây đứng ra kêu gọi dân chúng Hoa Kỳ tham gia vào Thỉnh Nguyện Thư đòi truất phế Trump vì ông ta cho rằng Trump điên rất nguy hiễm trên vấn đề xử dụng bom nguyên tử.
Tất cả chúng ta ai ai cũng biết Bắc Hàn đã từ lâu muốn thử sức bom nguyên tử với Hoa Kỳ. Nhưng TT Trump đã dùng tất cả nghệ thuật thương thuyết để kéo Tầu và tất cả đồng minh Đông Nam Á vào sự thương thảo can thiệp hầu tránh đi một cuộc chiến nguyên tử. Ấy vậy mà dưới sự điều hướng tung tin thất thiệt của bọn CS Hoa Kỳ, chúng đã bóp méo sự thật để tung ra những fake news hầu kêu gọi truất phế Trump.
Nhưng Tom Steyer là ai ? Ông là một tài phiệt nằm trong đảng Dân Chủ, là một nhà hoạt động hàng đầu và gây quỹ cho đảng Dân Chủ. Ông đã từng gây quỹ cho John Kerry vào năm 2004 . Steyer, một nhà tài trợ khổng lồ của đảng Dân chủ, đã bỏ ra hơn 70 triệu USD trong năm 2014 để giúp bầu cử các ứng cử viên của Đảng Dân Chủ đi vào chính quyền Mỹ. Cũng như đã bỏ ra trên 88 triệu để tài trợ cho các đảng viên đảng Dân Chủ trong cuộc tranh cử 2016. Và bây giờ Steyer đã bỏ ra trên 10 triệu đô la để thành lập một ban vận động truất phế TT Trump.
Câu hỏi được đặt ra là tại sao phải bỏ rất nhiều tiền cho đảng viên của Đảng Dân Chủ vào nắm quyền trong chính quyền Mỹ? Hỏi tức là đã biết bọn CS Hoa Kỳ nhất định phải thay đổi Hiến Pháp để dàn dựng một xã hội chủ nghĩa tại đây. Nếu những nhà bình loạn người Mỹ gốc Việt đang điều hướng người dân VN theo con đường xã hội chủ nghĩa thì tốt nhất là nên cuốn gói về VN mà ở. Còn sống chung trong tập thể người Việt tỵ nạn CS mà cứ lải nhãi copy and paste những tin tức thất thiệt của bọn truyền thông thiên tả để đánh phá TT Trump là dấu hiệu của những cây bút mực đã khô , óc đã đi vacation lâu rồi mà vẫn ráng hết sức tô ngang vẽ dọc trên những trang giấy vô tội rồi cứ tưởng rằng mình là những con tằm đang nhả tơ nhưng thực tế người dân đã biết tỏ tường qúi vị là những con nhộng trong cái kén lâu rồi.

Tôn Nữ Hoàng Hoa
18/11/2017
--------
Ý kiến độc giả :

Mấy ông bình loạn gia Việt-Mít chuyên trò đánh Trump tại Mỹ đang thực sự hành "Nghề Tổ" của làng Cổ Nhuế ở Bắc Việt dưới thời của "Bác Hồ". Họ thực sự đang sống bằng nghề hốt cứt để đem bán lấy tiền. Một trong những anh buôn cứt này là Lữ Giang. Có lẽ cha ông của anh Tú Gàn này đã hành "Nghề Tổ" chuyên nghiệp.
Chuyện có thật là năm 1980, có một anh cán bộ vào nhà chúng tôi quan sát, tưởng anh là công an dòm ngó gì đó nên chúng tôi cũng dè chừng . Anh ta đi vòng vòng và cuối cùng chú đến 2 cái hầm cầu của nhà chúng tôi, ngắm nghía đo đạc và tính toán. Cuối cùng anh ta gặp mẹ tôi và xin phép được vét hầm cầu. Thì ra anh ta là cán bộ canh nông. Cũng hay nhà cầu của chúng tôi gần 30 năm chưa được vét.
Sau gần mấy tiếng hì hục múc vét, nhóm cán bộ của anh ta thu được thành quả vượt chỉ tiêu là 5 thùng (1 mét khối) phân đặc đã hoai lâu năm, chở đi trên 2 chiếc xe ba gác. Anh ta hí hửng cám ơn. Tôi chắc rằng toán này sẽ được giấy ban khen của huyện uỷ.
Nay liên tưởng đến Lữ Giang - Tú Gàn, tui e rằng ông này cũng mang phân đi bán cho ai đó để nhận tiền về nuôi gia đình ! Chỉ tội là ông ta bốc mùi "Dạ Hương" quá nồng nàn !!

JB Trường Sơn